Tương tự như hai phần trước, chuyến phiêu lưu mới của bộ tứ
hoàn cảnh đến từ sở thú New York vẫn thu hút người xem từ phút đầu đến phút cuối.
Và cũng tương tự như hai phần trước, mỗi lần xem xong một tập phim, tôi đều cảm
thấy, ôi sao phim ngắn thế… Nghe đồn phần này cũng là phần cuối cùng của Madagascar.
Nếu vậy cũng thật đáng tiếc. Nhưng nếu vậy thì phim đã kết thúc thật huy hoàng
bởi so với hai phần trước, phần 3 này còn vui nhộn và mãn nhãn hơn. Y như dòng
viết mào đầu ở trên:
Alex và đồng bọn đã trở lại và lợi hại hơn xưa.
Chuyện là sau một thời gian sống ở rừng rú Châu Phi, Alex lại
đau đáu nhớ về New York hoa lệ. Cậu sư tử thích xê dịch như mọi lần lại dẫn dụ ba
người bạn ngựa vằn Marty, hươu cao cổ Melman và nàng hà mã Gloria cùng trở về.
Cả bọn bèn theo chân biệt đội cánh cụt vô cùng lợi hại đến một một sòng bạc lớn
nhất thế giới. Ở đây, họ lại gây ra một cuộc đại náo loạn. Và lần nào không may
cho cả bọn vì đã lọt vào tầm ngắm của nữ cảnh sát chuyên săn bắt thú với thành
tích chưa từng thất bại. Để trốn tránh sự truy đuổi của người đàn bà thép này,
số phận run rủi Alex và các bạn phải mua lại một đoàn xiếc di động và cùng đoàn
xiếc này rong ruổi khắp Châu Âu. Từ đó mở ra một cuộc phiêu lưu mới vô cùng độc
đáo…
Có lần tiếp chuyện
một khách hàng trong một quán cà phê cũng có thể nói là ở trung tâm thành phố.
Quán này có khá đông người nước ngoài lui tới. Vì ngồi gần cửa ra vào nên tôi có
thể bắt gặp họ đi ngang qua. Có người da trắng và cả người da đen. Ít khi một lúc lại nhìn thấy nhiều người nước ngoài như thế. Còn cả hai cô gái người Nhật đi cùng một người Việt
Nam dường như đang làm nhiệm vụ hướng dẫn viên. Ngoại trừ hai cô gái này
(có lẽ vì họ nhỏ nhắn và cùng là người Châu Á, tôi thấy họ không quá xa lạ với dân
mình), những người đàn ông da trắng và da đen trong quán cà phê ấy đều gợi lên
cho tôi cảm giác đường bệ đến kinh ngạc. Nhất là nhóm ba người đàn ông đủ sắc tộc bước vào quán cùng một lúc (trong số họ có người nhìn như người Ấn). Họ rất to lớn, phục sức trịnh trọng (vest, cà vạt, cặp da), ánh mắt nhìn
quanh tự phụ. Bạn nghĩ họ hẳn đến đây để thương thảo và đi đến ký kết một phi vụ
quan trọng nào đó. Một cuộc họp với đối tác, những bộ vest chỉn chu, quán cà
phê Sài Gòn, giữa trời trưa nắng, tất cả những thứ ấy bỗng dưng gợi lên cho tôi
một cái gì đó thật gượng gạo.
Có những lúc nhìn
người nước ngoài ở Sài Gòn, tôi lại có cảm giác họ không phải
đang ở trên một xứ sở xa lạ. Ngược lại, chính tôi – dân bản xứ mới là khách lạ nơi
này. Rồi tôi nhủ lòng, nếu từng có người Việt treo biển miễn tiếp người Việt tại đất nước Việt Nam thì cảm giác ấy của tôi hẳn cũng dễ hiểu. Tôi cũng nhớ vài năm trước, có ông anh đang dạy ở một trường đại học than vãn với tôi một câu nghe chừng rất hài hước: ở trường anh giờ chỉ
muốn tiến sĩ, đặc biệt là tiến sĩ ở nước ngoài về, không cần biết là cái nước
gì, cứ miễn nước ngoài thì nhận hết…Cái sự sùng bái nước ngoài ăn sâu vào dân xứ mình như vậy, đến mức trở thành vô thức, trong đủ mọi lĩnh vực và vì vậy không phải không có lúc như mù quáng, làm tổn thương tinh thần chính dân tộc mình. Nhưng rốt cuộc là cái gì đã dẫn đến sự sùng bái ấy?
Tôi nhớ khi đọc tác phẩm Vô
hồn của Sergey Minaev, có một đoạn viết khiến tôi chú ý. Nó cung cấp cho
tôi một cách nhìn, về những người nước ngoài làm việc tại những công ty trong
nước, ở đây là Nga. Với tôi, đó là một khía cạnh hiện thực đáng để suy ngẫm. Và đương nhiên là không chỉ cho dân Nga thuở ấy...
"Những
expat (từ chỉ những người nước ngoài đang
làm việc tại các công ty trong nước)… không kể đến một số chuyên gia cao cấp
người nước ngoài đang làm việc tại những công ty tên tuổi… - những người được
trả lương rất cao để nâng công ty lên tầm cỡ quốc tế. Thường thì chi phí đó thực
sự đáng đồng tiền bát gạo.
Với tôi, expat là
một đám ngoại quốc thường đảm nhận những công việc như quản lý khách sạn, giám
đốc nhà hàng, chuyên viên tư vấn đủ loại, chuyên gia quảng cáo, tiếp thị, giám
đốc điều hành, giám đốc bán hàng v.v… Đa số đều là những tên láu cá hoặc là những
kẻ không thành đạt ngay ở quê nhà và tới đây từ đầu hoặc giữa những năm chín
mươi, lập nghiệp ở một đất nước gần như còn mông muội với ý định làm giàu bằng
việc "đổi giày thủy tinh lấy vàng" cho những kẻ nhẹ dạ…
Dễ thấy rằng, người
đang có công ăn việc làm tử tế không dễ gì bỏ ra nước ngoài làm ăn, nếu không
phải là để mở rộng hoạt động kinh doanh lên tầm quốc tế hoặc là hoán đổi vị trí
làm việc trong một công ty đa quốc gia. Tất cả những xê-ri phân bua kiểu như "Đơn giản là tôi thích đi du lịch" hay là "Phụ nữ nước bạn đẹp
thế" chỉ là những câu sáo rỗng không hơn không kém. Và thế là trong một
thời gian ngắn, những kẻ thất bại trong cuộc cạnh tranh ở nước mình bỗng dưng
trở thành những người thầy dẫn dắt chúng ta làm thương mại. Họ được trả lương
cao kinh hoàng… giúp họ chứng tỏ sự thành đạt của mình cho dân Nga ta, những
người còn chưa kịp trở thành ông chủ của họ. Cứ thế hình thành một nếp nghĩ như
thế này: dân ngoại quốc thì dứt khoát phải có giá hơn và luôn làm việc tốt
hơn các đồng nghiệp bản địa…" *.
---
* Bản dịch của Nhật An và Trương Hồng Hạnh, NXB Trẻ và Tinh Văn, 2007.
Một nơi không bao giờ có ánh sáng
nhưng cũng không bao giờ có đêm đen, một nơi không có tiếng cười nhưng cũng
không khi nào có tiếng khóc than. Đó là Đảo cô hồn.
Tôi ở đây có lẽ
đã đến mấy trăm năm. Ngày lại ngày trôi qua, tôi vất vưởng trôi trong không
khí, thi thoảng dừng lại ngó lăm lăm những vong hồn khác. Tôi cố tìm một nét
quen thuộc, một gợi nhớ thân thương đến cõi người nhưng nhìn đâu tôi cũng chỉ
thấy những kẻ như mình, nhợt nhạt, tội nghiệp, âm u, tù đọng. Trăm năm ở đảo,
trăm năm tìm kiếm, trăm năm cô đơn. Tâm trạng tôi dần trở nên u uất. Đã nhiều
năm, tôi thường để mình trôi vô định từ góc đảo này đến góc đảo khác, mang theo
sự nặng nề trong lòng mình hòa vào không gian trầm lắng của đảo. Tôi gặp gỡ
nhiều cô hồn khác, kết bạn với họ. Nhưng thế giới cô hồn không có niềm vui, Đảo
cô hồn là nơi chôn cất tiếng cười. Trăm năm ở đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy
một nụ cười nào. Tất cả chúng tôi đều có gương mặt lặng câm như nhau.
Mấy trăm năm
sống cuộc sống sau cái chết như thế, tôi cảm thấy kiệt sức. Tôi muốn tìm gặp
Diêm Vương, người duy nhất có quyền lực ở địa ngục có thể giải thoát cácvong hồn khỏi số phận vĩnh viễn không thể
siêu thoát của họ. Nhưng câu chuyện được truyền tụng nghìn năm trước vẫn còn ở
trong tâm trí tôi, về kết cuộc của một cô hồn muốn thoát khỏi đảo. Diêm Vương
không bao giờ ưa thích những hồn ma có ý định chống lại bàn tay của tạo hóa. Tại
cửa ngõ duy nhất thông đảo đến chốn khác đến nay vẫn còn treo mái tóc anh ta.
Đó là tất cả những gì còn lại sau một tiếng sét. Anh ta đã hóa thành tro bụi,
mãi mãi không thể luân hồi chuyển kiếp. Tôi đã từng lang thang đến chốn ấy,
nhìn cái thứ còn lại minh chứng cho sự tồn tại của kiếp người, lòng đau se sắt.
Dạo ấy tôi vừa mới chết xuống đây, được răn dạy bằng câu chuyện của anh ta, hẳn
tính người trong tôi hãy còn nên tôi còn nước mắt khóc cho anh ta. Mấy trăm năm
trôi qua, nước mắt cũng tiêu tan, tôi nhìn vật thể sót lại của người thiên cổ,
chỉ tự hỏi lòng mình có nên lặp lại số phận của anh ta. Tôi có mong muốn trở
lại làm người không? Suy cho cùng, tôi nghĩ, thà trở thành cát bụi còn hơn tiếp
tục là một cô hồn thế này, với chuỗi ngày lê thê tiếp nối sầu thảm lại đến sầu
thảm.
Chỉ thiếu tập truyện ngắn Thằn lằn là tôi có đủ những tác phẩm
được dịch và xuất bản tại Việt Nam của Banana Yoshimoto. Cái gì khiến tôi có
duyên với tác giả này đến vậy nhỉ? Khi đọc nhiều tác giả Nhật hơn, cũng như nhiều
tác giả Trung hơn, bạn dễ dàng nhận ra những điểm giống nhau của họ. Điều đó có
khả năng dẫn bạn đến thẳng sự nhàm chán và rồi từ từ bạn ít muốn chọn lựa các đầu
sách thuộc về nền văn chương của đất nước ấy hơn (điều này tôi lại ít cảm thấy
khi đọc sách của các nhà văn phương Tây). Văn học Trung Quốc, dù các đầu sách
xuất bản tại Việt Nam chiếm thế thượng phong, từ lâu tôi rất ít đọc. Với văn học
Nhật, ngoài Banana Yoshimoto, Haruki Murakami hay Ekuni Kaori là những tác giả có
nhiều sách xuất bản tại Việt Nam (tôi tin rằng mình đã bỏ lỡ Dazai Osami,
Kawataba hay Watanabe vì vậy chưa thể liệt kê tên họ vào đây). Vì vậy với tôi, không ngần ngại nói rằng, Haruki Murakami ám ảnh
hơn cả, dẫu cho nhân vật của ông có giống nhau cỡ nào đi chăng nữa. Nhưng hỏi
tôi,ở tư cách người đọc nữ, thích đọc ai
hơn, tôi sẽ trả lời là tôi thích đọc Banana Yoshimoto hơn (khi tự hỏi và tự trả
lời, bỗng tôi cũng thấy sáng rõ được lý do tại sao tôi mua sách của tác giả này
nhiều hơn cả). Đọc Banana với tôi khá dễ chịu nhưng không phải kiểu dễ chịu làm
cho người ta quên (thường thì chúng ta chỉ nhớ những gì làm chúng ta trăn trở
hay đau đớn đúng không?!). Cái không quên ở đây không có nghĩa là bạn sẽ nhớ được
chi tiết những gì bạn đã đọc của tác giả này, tôi vẫn phải nói vậy bởi vì điểm
chung trong sáng tác vẫn có lúc làm tôi nhớ nhầm giữa tác phẩm này với tác phẩm
khác, nhưng cái không quên nằm ở sức hút, kiểu “bảo chứng tên tuổi” của một diễn
viên thực lực – tôi vẫn sẵn sàng để đọc những tác phẩm tiếp theo của Banana
Yoshimoto và sự thực đúng là như vậy.
Hồ là tác phẩm mới nhất của cô. Một câu chuyện trong trẻo về
tình yêu. Dù những khía cạnh về cuộc đời Nakajima, được hé mở dần dần về cuối
trang sách, cho thấy một quá khứ không phải không khủng khiếp, cách viết của
Banana Yoshimoto vẫn tinh tế và nhẹ nhàng như không. Điều này khiến bầu không
khí trong truyện, dù cô đơn, thuộc về những con người sống như biết không có ai
cần mình, và mình cũng không có ai bên cạnh, quá khứ hay tương lai là một màn
sương mờ ảo không rõ hình thù, vẫn đạt đến độ trong lành, tinh khiết tuyệt đối.
So với những tác phẩm đã viết, tôi nghĩ Hồ còn tinh khiết, đôi chỗ hài hước và
lấp lánh ánh sáng lạc quan hơn. Tuy nhiên, một ấn tượng khá lạ về tình yêu đôi
lứa giữa Chihiro và Nakajima (so với tình yêu đôi lứa trong những tác phẩm đã đọc
của cô) là tôi không sao không cảm thấy mối quan hệ của họ cứ như giữa hai người
bạn gái với nhau. Là bởi nhà văn xây dựng Nakajima ôn hòa, nhẹ nhàng quá hay tình
cảm của họ trong lành quá, dù không hề thiếu sự chung đụng thể xác, mà chúng ta
thì vốn quen ngó nghiêng những bụi bặm ở đời, đến nỗi ta không thể không bật cười
(dĩ nhiên là trìu mến) trước sự trong lành ấy?! Có lần tôi nhớ đọc được rằng sở
dĩ nhà văn chọn bút danh Banana vì đó là một cái tên rất trung tính. Và thú thật
là đôi khi tôi cũng cảm thấy tình yêu mà Banana Yoshimoto viết cũng là thứ tình
yêu rất trung tính.
---
Được yêu là thế. Là khi một người ‘muốn chạm vào mình, muốn tỏ ra dịu dàng với mình’ – tr. 18.
Nghe một câu chuyện trắc trở của người khác cũng giống như cầm tiền của người ta vậy, không thể chỉ nghe xong để đấy. Bởi vì đã nghe nghĩa là ta đã nhận lấy trách nhiệm – tr.41.
Thừa nhận mình không hiểu những chuyện mình thực sự không hiểu chính là tôn trọng người đó – tr.50.
Chỉ ở giai đoạn đầu của tình yêu người ta mới chịu đựng điều mình không thích vì người kia. Tới khi cả hai biết rõ điều người kia không thích thì tự nhiên họ sẽ không còn làm thế nữa – tr. 83.
“ … càng lớn tuổi, con người ta càng nói ít
đi. Họ nghĩ nhiều hơn”.
“Xưa nay chiến tranh nổ ra cũng chỉ vì miếng ăn.
Mặc dù người ta luôn tìm cách che lấp đi bằng những điều cao cả”.
“Khi bạn không làm được điều bạn muốn làm, có lẽ
bạn cũng cảm thấy tự do bị tước đoạt”.
“Khi một kẻ được đối xử đặc biệt hơn những kẻ khác,
tự nhiên hắn trở thành cái gai trong mắt những kẻ còn lại.
Dù bản thân hắn và những kẻ không ưa hắn, xét cho cùng thì cũng chẳng ai
độc ác gì”.
“Các bậc có tuổi thường nghĩ chán rồi mới làm. Cũng
có thể nghĩ chán rồi chả thèm làm gì hết”.
“Khi bạn quá tin cậy hoặc sùng bái một ai, chắc
chắn bạn không bao giờ đề phòng, thậm chí nghi ngờ. Và đôi khi bạn chết vì niềm
tin ngây thơ của mình”.
“Khi con người ta trông thiện lương hơn thì không
phải vẻ mặt mà chính tâm hồn của họ vừa được lau chùi”.
“…khi ta yêu ai bao giờ cũng yêu tất cả những gì
thuộc về người đó, cả điều hay lẫn điều dở. Cả những điều không hay không dở”.
“Tình bạn là điều gì đó thật kỳ diệu. Đó là thứ
tình cảm trong sáng và vô điều kiện, là món quà tặng mà khi ta trao vào tay ai
số phận hiếm khi giật lại. Vì vậy mà nó bền chắc và có thể kéo dài thăm thẳm
qua thời gian và sự xa cách”.
Có một người từng
nói, không hiểu sao một người như tôi lại có ý muốn nuôi chó. Đến lượt mình,
tôi cũng không hiểu tại sao lại có một thắc mắc kiểu này. Họ nói, đại ý là,
nuôi một chú chó bạn sẽ yêu và gắn bó với nó, hơn cả một con người. Điều vốn có
thể xảy ra với người bình thường ấy, với một người không yêu con người như tôi,
nuôi một chú chó chỉ dẫn đến việc tôi sẽ không bao giờ yêu một con người nào cả.
Bản thân người này cũng khẳng định không bao giờ nuôi chó, vì họ sợ sẽ chỉ còn
tình yêu dành cho chú chó của mình (mà họ thì còn muốn yêu con người).
Lần đầu tiên tôi
nghe một suy nghĩ kỳ lạ như vậy. Tuy không thực sự bận tâm, không phải tôi
không cảm thấy sự thái quá của quan niệm này. Về sau, tôi biết, người đó từ nhỏ
đã ác cảm với việc người ta nâng niu chăm sóc thú cưng, chủ yếu xuất phát từ cảm
giác ganh tỵ của một đứa trẻ thiếu vắng tình thương. Nhưng có lẽ mối ác cảm ban
sơ theo thời gian đã hằn thành một vệt nhăn khắc sâu trong tiềm thức, mặc dù
tôi có cơ sở để hoàn toàn tin, ở họ, không có bất cứ sự hằn học độc ác nào dành
cho loài vật.
Tại sao một người
như tôi lại muốn nuôi chó… và sau đó thêm, tại sao tôi không nuôi mèo. Tôi
không muốn giải thích dài dòng, chỉ nói tôi không thích mèo, mèo là loài vật
kiêu ngạo, người đó lại lập tức bảo: thế mới
thích hợp với cô. Tôi không thể và cũng có lẽ không muốn cởi mở nhiều về bản
thân cho người đó hiểu mình hơn. Khối rubic có nhiều màu nhưng không phải lúc
nào chúng ta cũng đủ bình tâm để nhìn nhận tất cả màu sắc trong một con người,
điều này đúng với cả bạn lẫn tôi. Những trao đổi trở nên khó khăn. Thật kinh khủng
khi trò chuyện và sau đó phải giải thích cho từng điều mình nói ra. Toàn bộ câu
chuyện về một chú chó kết thúc. Cùng với cảm giác kỳ quái mà tôi sẽ không cố gắng
đào sâu, về việc không hiểu bằng cách nào đó, một người có thể liên hệ việc tôi
yêu thương một chú chó đồng nghĩa với việc tôi không xem họ bằng một con chó.
Sự thật là, với
tôi, dù là người hay là chó, không có tình yêu dành cho tất cả. Tôi chỉ có sự
lương thiện và nhiều hơn là thiện chí tình bạn. Với tập hợp những người và vật
xa lạ ngoài kia… Trước khi, có thể là rất lâu, nói về tình yêu...
Trong lúc lôi ra
cái headphone cũ kỹ và loay hoay gắn vào ổ cứng máy tính, khi cố gắng tìm kiếm
lý do tại sao tôi không dùng được cái headphone trong thời gian dài qua, tôi
phát hiện phần phía sau sát tường của bộ máy tính vi tính để bàn, đặc biệt ở những
phần giắc cắm, đã phủ đầy bụi bặm. Dễ đến nửa năm tôi không lau chùi phần phía
sau này dù ngày nào nhà cửa cũng được lau chùi dọn dẹp.
Phát hoảng trước
mức độ bụi bặm của máy tính, sáng nay tôi tiến hành phủi bụi. Nơi đóng nhiều bụi
nhất là ổ cứng máy tính, đặc biệt ở những cánh quạt làm mát. Ở những ở giắc cắm
và các dây điện càng kinh khủng. Ngay cả dưới gầm bàn sát chân tường không chỉ
có bụi, mà tóc tai cũng bám đầy vào, mắc kẹt nhiều nhất dưới những chân bàn có
bánh lăn. Trong những hóc hẻm này, việc quét nhà, lau nhà mỗi ngày chẳng có tác
dụng gì đến chúng. Bụi như rủ nhau trốn vào những chốn này hết. Những lúc dọn dẹp
tôi thường ao ước nhà có một cái máy hút bụi. Nhưng mẹ tôi chưa bao giờ cho đó
là cần thiết. Thậm chí suốt một thời gian dài mẹ tôi còn không chịu dùng cây
lau nhà vì cho rằng lau bằng khăn, bạn biết đó, nghĩa là bạn phải quỳ xuống đất
dùng sức mà lau, mới đảm bảo sạch sẽ. Đầu tiên, tôi tiến hành mở thùng máy,
tháo cái quạt phía bên hông và dùng cọ cẩn thận quét sạch đám bụi bám dằng dai
trong những góc khuất này. Đám bụi chắng mấy chốc rơi đầy xuống đất, đen kịt
như những con bồ hóng.
Tôi nhớ đến một
nghiên cứu từng cảnh báo rằng bàn phím máy vi tính là một ổ vi trùng, rằng
nó bẩn gấp nghìn lần bồn cầu nhà bạn. Hồi xa lắc nào đó, trong lúc "rảnh
rỗi sinh nông nổi", tôi mang nguyên cái bàn phím máy tính đi xối nước. Đó
cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cái bàn phím đó. Đôi lúc tôi ngẫm nghĩ
không hiểu tại sao tôi hành động ngốc nghếch như vậy. Có vẻ như tôi cho rằng
bàn phím máy tính là một bộ phần tách rời và chẳng dính líu tí nào đến điện
đóm. Thế nhưng chả phải lúc bình thường tôi hiểu rất rõ, rằng tất cả những
gì thuộc về máy tính đều là những linh kiện điện tử. Chúng là phần xác. Những
dòng điện trao cho chúng linh hồn. Phần nào hỏng thì đều đồng nghĩa với tê liệt,
chết chóc. Tại sao tôi có thể hồn nhiên đi nhúng nước một thiết bị điện?
Cơ mà những khoảnh khắc thấy mình ngốc nghếch đến thế, tuy ít thôi, cũng có lẽ
không hiếm hoi mấy.
Hồi còn làm ở
công ty cũ, vì chúng tôi thuộc bộ phận chi nhánh, có những việc chúng tôi phải
hỏi qua ý kiến trên hội sở (tôi không nghĩ rằng điều này luôn cần thiết bởi thông
qua những hướng dẫn tổng hợp, tôi cho rằng mình hoàn toàn có thể chọn lọc ra những
chi tiết cụ thể để áp dụng cho một tình huống cụ thể, vả lại, ở góc độ hiểu và
áp dụng pháp luật, tôi tin rằng cái tôi cần tuân thủ trước hết là pháp luật,
sau mới có thể bàn đến các quy định riêng trong nội bộ. Tuy thế, những sếp của
tôi thì không như vậy). Lần đó, tôi được nhắc phải gọi điện cho một anh nào đó
trên hội sở. Cái anh này được một số người quen (có lẽ họ trước đây học cùng
khóa trong trường luật) nhắc đến với cái tên Cường Điệu. Dù nó không phải cái
tên thông dụng, tôi nghĩ nó vẫn là một cái tên. Khi đầu dây bên kia cất tiếng a
lô, tôi hỏi : Dạ, xin lỗi có phải anh Cường Điệu không ạ ? Đầu dây
bên kia là một khoảng im lặng, như là đột nhiên rơi vào, một khoảnh khắc bạn có thể mô tả bằng cụm từ "lặng người đi". Và cùng lúc đó, tôi cảm nhận được những cái trố
mắt hướng về mình. Tôi lập tức nhận ra sự nhầm lẫn bấy lâu. Anh ta tên Cường, "Điệu" chỉ là một dạng biệt danh người ta ghán ghép cho anh ta mà
thôi…