Hiển thị các bài đăng có nhãn Tập đọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tập đọc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Trên kệ sách (7)




1Q84 (Haruki Murakami, Lục Hương dịch, NXB Hội Nhà Văn & Nhã Nam, 2012-2013) 

Tôi khá vất vả với bộ tiểu thuyết này. 

Tập 1 khá hấp dẫn, tôi đọc nhanh hơn một tẹo. Tập 2 tương đối, dẫu sao ta còn muốn đọc. Đến tập 3 thì gần như phải rất nỗ lực, chỉ vì không nỡ bỏ dở thứ đã bắt đầu. Một vài người đọc bộ 1Q84 tôi biết cũng có nhận định tương tự. Họ cảm thấy câu chuyện mỗi lúc một dài và gây chán nản, thậm chí có người không thể theo hết. Và sở dĩ tôi nhận được bộ này vì nhờ một người không đọc nổi đến cuốn thứ ba của nó.

Thật ra điều khiến tôi khó chịu hơn cả với bộ tiểu thuyết 1Q84 không hẳn là độ dài hay kiểu lề mề của Haruki Murakami, vì vốn tôi có thể hình dung với một tiểu thuyết đồ sộ như thế, thể nào ông ấy cũng sẽ nhẩn nha trong những chi tiết đời thường và tất nhiên, chớ mong chờ một chi tiết bùng nổ. Mọi thứ đến khi phải đến, theo cách cứ thế mà biết với nhau trong lặng lẽ. Và nếu có gì ta thấy hơi chán về tình tiết thì mấy cái nhân vật tưởng chừng ghê ghớm lại “ngỏm” một cách quá dễ dàng.. 

Điều khiến tôi khó chịu xảy ra sau vài trang của tập đầu, khi tôi cứ thấy mình như đang đọc văn học Trung Quốc thì đúng hơn là văn học Nhật Bản và của Haruki Murakami. Và rồi nhanh chóng tôi nhận ra bản dịch cả ba tập 1Q84 đều được dịch từ bản tiếng Trung với dịch giả dường như cũng là người hay dịch văn học Trung Quốc. Tôi không nghĩ mình hiểu đúng về văn phong của tác giả ngoại quốc hay một nền văn học. Nhưng ít nhiều quá trình đọc sách này sách kia mang đến cho ta những cảm nhận riêng, trở thành một cái gì có tính trực giác. Nó không dễ để diễn đạt nhưng nó tồn tại, vì nó là cảm giác chân chực của bạn. Tôi thấy hơi tiếc về điều đó.

Tôi còn một cuốn khác của Haruki Murakami mua từ hội sách mùa xuân năm ngoái, Kafka bên bờ biển, một tác phẩm cũ hơn và được ca ngợi nhiều hơn. Tôi không vội đọc vì cảm thấy mình đọc Haruki Murakami đã hơi quá nhiều. 

Nhưng cái suy nghĩ mình sẽ không đọc nhiều tác phẩm của cùng một tác giả, thật ra theo thời gian, tôi cũng đã tự phá vỡ. Đôi khi bạn không biết phải chọn gì giữa một rừng sách. Và bạn, theo thói quen, tìm đến thứ bạn từng biết, một cái tên khả dĩ vẫn gây niềm tin, một cuốn sách vẫn hứa hẹn khả năng gây đắm chìm.. tuy chúng ngày càng ít đi mà nguyên nhân của việc này một phần nằm ở nơi bạn. 

Tù nhân của thiên đường (Carlos Ruiz Zafón, Võ Hồng Long dịch, NXB Văn học & Nhã Nam, 2017) 

Khi cuốn sách này ra mắt, tôi đặt mua ngay và gạt những cuốn khác sang một bên để dành cho nó vài buổi tối. Tôi nghĩ trong cái năm nay thì đây là cuốn đem đến cho tôi cảm giác chờ đợi khi đặt mua. Tôi đã rất thích cuốn đầu tiên trong bộ tứ của nó, cuốn Bóng hình của gió mà tôi được Còi Cọc tặng (xem lại thời gian đọc, thì đó là vào năm 2015). Dĩ nhiên không phải là khoảng thời gian quá ngắn để tôi có thể hệ thống lại từng chi tiết nữa, có cái tôi đã quên rồi, thứ còn nhớ được thì chưa hẳn đã chính xác. 

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

Trên kệ sách (6)


69 (Ryu Murakami, Hoàng Long dịch, NXB Lao Động & Bách Việt, 2016) 

Tôi gần như quên khuấy cuốn này. Không phải vì nó dở hay ít thú vị. Dạo sau này, tôi nghĩ mình ít tập trung vào việc đọc. Đúng ra tôi đọc để tìm kiếm sự tập trung. Sự đọc khi đó dở hơn tự thân nó. Nghĩa là, thay vì hành vi đọc dẫn đến sự tập trung vào việc đọc, một cách tự nhiên thì tôi cố ép buộc mình. Hệ quả là tôi nhanh chóng thấy mệt và quên cái mình đã đọc nhanh hơn hẳn bình thường.

Đó có phải là vấn đề của tuổi tác không? 

Vẫn điên rồ sau bấy nhiêu năm…

Kazuo viết cái dòng ấy cho Ken, sau nhiều năm xa xách. Nàng đã lấy chồng còn chàng trở thành nhà văn. Thi thoảng họ liên lạc với nhau, bằng những cú điện thoại hay thư từ. 

Rồi cuốn sách ngừng ở đó. Dĩ nhiên đó là một cái kết không thể nào đẹp hơn. Bởi lẽ cuốn sách không viết về cái thực tại mà viết về quá khứ. Cái năm 1969, khi họ còn là những cô cậu mười bảy tuổi… 

Không ơ thờ lãng đãng, không u ám thâm trầm, càng không huyền bí siêu thực, Ryu Murakami mang đến cho tôi một cảm giác mới mẻ về văn chương Nhật. Một thời tuổi trẻ sôi nổi, không thiếu ngông cuồng nhưng tươi sáng và khá hài hước được ông gói gọn trong hơn hai trăm trang sách với lối hành văn hiện đại, cái nhìn dí dỏm và một niềm say mê mà hẳn chỉ nhiệt tình tuổi trẻ mới có. 

Bạn có thể là gà, hay là người, nhưng chỉ cần chút nổi loạn là ta biết được đời ta thuộc về chính bản thân ta (trang 234). 

Phong vị tuổi trẻ thấm đẫm trong 69 như thế… 

Gió đùa trong liễu (Kenneth Grahame, Nguyễn Thị Cẩm Linh dịch, NXB Văn học & Đông A, 2017)  

Tôi đặt mua online. Vì vậy khá ngạc nhiên khi sách đến tay. Hình thức rất đẹp, bìa cứng, còn có tranh mình họa. (Dù kỳ thực tôi không thích sách bìa cứng, nó lạc điệu giữa hầu hết sách tôi có, chỉ là loại bìa mềm). Cuốn này hợp với bạn đọc nhỏ tuổi, từ thể thức trình bày đến văn phong và nội dung câu chuyện. Tất nhiên nếu thiếu nhi đọc được thì người lớn cũng là đối tượng có thể đọc (phép loại trừ chỉ diễn ra ở chiều ngược lại?!) 

Bạn sẽ thấy mến Chuột Chũi vì sự trung hậu của cậu, rồi cũng sẽ mến Chuột Sông với sự thông minh nhưng không thiếu trìu mến yêu thương trong cậu… Rồi những nhân vật khác xuất hiện và bạn thấy tất cả đều đáng yêu. Nhưng rất có lẽ cậu Cóc ưa phiêu lưu, cả thèm chóng chán là nhân vật thú vị hơn cả. Một kẻ cuối cùng cũng trưởng thành hơn sau những vấp váp. Nhưng cái thú vị ở Cóc, là một người lớn thì ta chẳng buồn đánh giá cao cái chi tiết cuối cùng ấy (trừ phi ta phải thuyết giảng với mấy bé thiếu nhi), mà ta sẽ thấy thú vị trước những chi tiết nổi loạn, những biểu hiện luôn ở ngưỡng tối đa cảm xúc của cậu. Sự si mê đối với cái xe ô tô, sự lao mình vào thú nguy hiểm mặc kệ mọi lời can ngăn… Một kẻ hay gây rối nhưng lại là tâm điểm để làm câu chuyện bên dòng sông nơi vi vu gió đùa trở nên sống động và tràn đầy tinh thần phiêu lưu hơn…

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Trên kệ sách (5)


Để em khỏi lạc trong khu phố (Patrick Modiano, Phùng Hồng Minh dịch, NXB Văn học & Nhã Nam, 2016) 

Tôi hơi không tin được là tôi lại tiếp tục đọc tiểu thuyết của Patrick Modiano. Tôi nghĩ cuốn đầu tiên - Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối và cùng lắm đến cuốn thứ hai - Từ thăm thẳm lãng quên là đã đủ rồi. Thế nhưng, bất luận là đến cuốn thứ ba Phố những cửa hiệu u tối, không chỉ là “đã đủ” mà là “quá đủ” thì lại thêm một lần nữa, tôi sa chân vào cái mạng nhện của ông ấy, nhà văn của Paris - Paris của riêng ông, nơi đi vào là lạc ngay đó. 

Một câu chuyện nữa về lãng quên và tìm về. Tôi ngờ là những nhân vật của Patrick Modiano đều mắc hội chứng “não cá vàng”. Để rồi đến lượt mình, đám độc giả cũng mắc lây cái chứng ấy. Cảm giác mơ hồ đeo đẳng tôi suốt những trang sách. Tôi không thể hiểu tường tận, cùng lắm chỉ có thể cảm nhận. Nhưng sự cảm nhận đó cũng mong manh và nghèo nàn, không khác nhau giữa những cuốn sách, và như đã được mặc định: nỗi hoài nhớ, sự lãng quên và cảm thức trôi dạt, ta thậm chí không biết ta là ai và càng không biết những người từng ở bên ta, họ là ai trong cuộc đời này... Đọc tiểu thuyết của Patrick Modiano như thể đi lạc trong một giấc mơ. Một giấc mơ mà khi tỉnh thức, bạn chẳng nhớ được điều gì, chỉ cảm thấy nỗi buồn vương vất đâu đó, nỗi buồn của cảm giác bị bỏ lại, bơ vơ mà không biết tại sao mình bơ vơ… 

May mắn thay, giấc mơ không quá dài… 

Một ý niệm khác về hạnh phúc (Marc Levy, Phạm Thị Minh Hằng dịch, NXB Hội nhà văn & Nhã Nam, 2015) 

Có người bảo tôi thật can đảm, theo nghĩa mỉa mai, khi chọn mua sách của Marc Levy. Như thể với họ, một người đọc chân chính sẽ không đọc Marc Levy.

Tôi không nghĩ thế. Dẫu rằng rất lâu, có lẽ trên mười năm, tôi mới trở lại với một cuốn sách của ông. Ấn tượng của tôi dành cho nhà văn Pháp từ cái thời Nếu em không phải một giấc mơ vẫn vậy: một nhà văn lãng mạn với cái nhìn điện ảnh – như một đạo diễn hơn là một nhà ngôn ngữ (chả là từ cái thời đó tôi đã có suy nghĩ tác phẩm của Marc Levy rất thích hợp để dựng thành phim, kiểu phim tình cảm lãng mạn của Mỹ mà ta có thể dành những ngày thứ bảy để xem, để thư giãn và để thấy cuộc đời này vẫn còn đáng yêu). 

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

Trên kệ sách (4)


Zazie trong tàu điện ngầm (Raymond Queneau, Cẩm Thơ dịch, NXB Trẻ, 2012)

Dường như NXB Trẻ có một tủ sách gọi là “Cánh cửa mở rộng”. Thật ra tôi không hiểu sự phân loại đó, cũng sẽ thường không mặn mà với những gì được dán nhãn theo cách định hướng người đọc. Chưa kể chúng khá mắc mỏ (tôi nhớ cuốn tôi cảm thấy muốn đọc nhất trong tủ sách này là Gia đình Buddenbrook nhưng dạo đó vì thường ở vào tình trạng rỗng túi nên cái giá của nó với tôi quá khủng khiếp).

Riêng cuốn này, sau nhiều lần lữa, vào khoảng tháng ba, tư năm nay, khi tình cờ thấy trên trang Vinabook ghi dòng chữ: “Chỉ còn 02 quyển”, tôi mới chẳng suy nghĩ thêm, mua luôn cả hai, một cho mình, một gửi tặng bạn. Sách xuất bản từ năm 2012, khi nhận các trang giấy đã kịp tỏa mùi cũ kĩ. 

Đọc cuốn này là một trải nghiệm lạ lùng. Không giống một tác phẩm văn học, nhất là văn học theo lối kinh điển, Zazie trong tàu điện ngầm giống một kịch bản phim và nó sẽ hoàn toàn dễ hiểu nếu tồn tại ở dạng phim ảnh. Khi là một cuốn sách, nó làm tôi thỉnh thoảng rơi vào vùng khó hiểu khi giữa các đoạn hội thoại và tình tiết không có phân đoạn nào cho thấy sự chuyển tiếp. Các nhân vật xuất hiện khá ồ ạt và dường như chẳng với trọng điểm nào. Hơn nửa cuốn, tôi đọc một cách nỗ lực. Vì không muốn bỏ dở giữa chừng, cũng vì vẫn hy vọng vào một cái gì sáng chói như đã được mặc định ở phía sau.

Cho đến khi đọc hết cuốn sách, tôi không dám chắc về sự xuất sắc của nó. Nhưng sự thú vị thì có. Zazie trong tàu điện ngầm có sự thú vị của một bộ phim hài châm biếm, với một vài tình tiết mang chất trinh thám hành động, đôi khi hơi cường điệu. Có lúc tôi thấy cuốn sách hài kinh khủng đến mức phải phá lên cười. Dĩ nhiên, bạn đồng thời cũng cảm nhận được vị mặn đằng sau bức tranh toàn thể tưởng chừng hài hước đó. Như sẽ hiểu Zazie sau khi cùng cô bé trải quá mấy ngày ở Paris, rằng sau dáng vẻ ngông nghênh, lối ăn nói sống sượng kiểu người lớn, Zazie vẫn chỉ là một đứa trẻ với những mộng ước rất trẻ thơ, bất chấp cái tuổi thơ đầy bi kịch có thể khiến bất kỳ ai gục ngã. 

Như lời dẫn ở phần đầu tác phẩm, Zazie trong tàu điện ngầm có thể viết theo lối bi lụy nhưng Raymond Queneau đã làm ngược lại. Và độc giả nhấm nháp tấn trò đời bi kịch sau chính những tràng cười của mình. 

Về cô gái này (Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Trẻ, 2015)

Như cân nặng của cô gái ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc đời cô trong câu chuyện, cuốn sách này nặng hơn nghìn lần khối lượng cơ học của nó và may mắn là nó khá mỏng. Nếu không đọc nó sẽ là một trải nghiệm rất, rất nặng nề.

Cuộc đời một cô gái béo phì có gì vui? Một vài cô tôi biết, chưa ở mức béo phì nhưng cân nặng quá khổ dường như không ảnh hưởng đến niềm vui sống của họ. Bất chấp một vòng eo vượt giới hạn, một thân hình mà giới mỹ học không gọi là đẹp, thậm chí dễ bị cười chê, thậm chí bị cảnh báo về bệnh tật, họ vẫn rất vui vẻ. Và một trong những thứ giữ cho họ vui vẻ, là họ sẽ ăn bất cứ thứ gì họ thích. Họ cười nhạo cái ý nghĩ sống là phải kiêng khem món này, món nọ của người khác. Dĩ nhiên, với tôi, chẳng có vấn đề gì nếu người ta không chú ý đến cân nặng của họ. Cũng như chẳng có vấn đề gì nếu người ta chú ý đến cân nặng của họ. Suy cho cùng đó là tự do cá nhân (tôi chỉ sợ thứ gọi là bệnh tật gây ra nếu bạn quá béo hay quá gầy).

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Trên kệ sách (3)


Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng (Monique Brinson  Demery, Mai Sơn dịch, NXB Hội nhà văn & Phương Nam Book, 2016)

Viết theo kiểu hồi kí về một nhân vật chính trị nhưng cách viết cũng như phương thức tiếp cận của tác giả gây cho tôi cảm giác mình đang được đọc một tiểu thuyết văn học. Tôi theo dõi suốt mấy kì trên vnexpress nhưng một lần nữa, tôi vẫn không cởi bỏ được sự thận trọng dành cho những cuốn sách phi hư cấu do người ta tự viết về mình hay được người khác viết về. Thế nên nếu không phải vì được tặng thì khả năng là tôi chẳng bao giờ đọc trọn vẹn tác phẩm này.

Những chương đầu hấp dẫn với tôi hơn. Càng về sau thì những chi tiết càng trở nên mập mờ khó hiểu. Có lẽ đó là bóng đen lịch sử mà ở góc độ tác giả, viết về bà Nhu thông qua những cuộc điện đàm với chính bà, cuốn nhật kí riêng tư của bà Nhu cũng như những tư liệu của những nhân vật liên quan, mà sự rõ ràng trắng đen là bất khả. Có cảm giác cuốn sách được bọc trong một lớp màng an toàn. Nhiệm vụ của nó không phải là truy tầm sự thật lịch sử mà dường như mang tính cá nhân nhiều hơn: tác giả cất giọng nói của riêng mình, một giọng nói phụ nữ - nghĩa là hàm chứa trong đó sự dịu dàng, sự cảm thông, về một nhân vật khét tiếng trong lịch sử miền Nam Việt Nam: Madam Nhu Trần Lệ Xuân.

Ngoài ra, còn một sự thật đáng xấu hổ khác là tôi không mấy rành rọt về lịch sử của chính quốc gia mình, ngoài những cột mốc và sự kiện nhất định – những cuộc chiến tranh, những trận đánh. Một cách tổng quát, có thể nói thêm như vậy, từ thời còn đi học (mà giờ đây tôi cũng chẳng thể nhớ hết nổi). Sâu xa vào từng ngóc ngách của mỗi sự kiện hay mỗi nhân vật lịch sử thì sự hiểu biết của tôi càng bập bõm. Với chế độ Ngô Đình Diệm, với những nhân vật trọng yếu của nó: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân cũng thế. Chính cái khoảng trống đó cũng khiến cho việc đọc hiểu những trang viết, với những sự kiện và con người được nhắc đến, với tôi càng chẳng dễ dàng chút nào.

Điều tôi có thể tạm rút ra là, với cuốn sách này, cho phép tôi cảm nhận Ngô Đình Diệm vẫn là một người yêu nước. Quan điểm và đường lối chính trị của ông ta chỉ là khác với những nhà cầm quyền cách mạng – có thể hiểu đơn giản như vậy. Dĩ nhiên, chế độ họ Ngô hàm chứa trong nó những sai lầm – sự tập trung quyền lực vào một gia đình, chẳng hạn. Chế độ đó làm xuất hiện cũng cuộc bạo động, đảo chính nhưng ở phía ngược lại, tôi lại cảm nhận được tinh thần tự do của miền Nam Việt Nam giai đoạn đó – sự đối kháng diễn ra công khai và người dân dường như không khiếp sợ điều gì.

Cuối cùng, thật kỳ lạ, có một nỗi hoài buồn khi tôi những dòng viết về cuộc đời bà Nhu hay cũng chính là số phận gia tộc bà. Những con người đi từ tột đỉnh quyền quý đến sự suy vong, với những bi kịch tiếp nối bi kịch. Như một câu được trích trong cuốn sách, là lời của chính chị gái bà Nhu: “Bạn càng kể lể về những vinh quang của quá khứ, cái kết cục càng trở nên kinh khủng.” Những cuộc đời ấy rồi cũng phải khép lại, dù công tội ra sao…

Giấc mơ Mỹ (An Lâm, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2016)

Giữa một rừng văn chương về cơ bản là khai phá nỗi buồn của con người, tập truyện ngắn này sáng lên như một cuốn sách self-help (dĩ nhiên không mang quá tinh thần “cải tiến con người” như thể loại sách này). Nó khiến tôi nghĩ tác giả hẳn phải là người thành công trong cuộc sống, ít nhất ở nghĩa là một người có lối tư duy tích cực và một đời sống lành mạnh - lành mạnh trong đời sống riêng cũng như được thụ hưởng sự lành mạnh ở môi trường sống xung quanh. 

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Trên kệ sách (2)



Chinatown (Thuận, NXB Văn học & Nhã Nam, 2014)

Cả cuốn sách hầu như không xuống dòng, ngoài những đoạn truyện do nhân vật nữ viết được in  bởi những dòng nghiêng. Chinatown tạo ngay cho tôi một cảm giác kỳ lạ, hơi giống với cảm giác khi tôi bắt đầu đọc Tình ơi là tình của Jelinek hay gần đây hơn, Những ngã tư những cột đèn của Trần Dần. Có lẽ Thuận là một nhà văn thích sự phá cách và hẳn có khuynh hướng làm mới mình qua mỗi tác phẩm. Nhận xét này có thể là vội vàng khi tôi chưa đọc những cuốn sách khác của cô. Nhưng tôi linh cảm rằng người ta khó mà viết đi viết lại theo cùng một cách như thế. Và họ sẽ thuộc về những người viết không (không muốn/không thể) duy trì một phong cách. Họ thích thử thách và có khả năng đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác; sẽ có thể có nhiều độc giả, những nhà văn thông minh ấy, nhưng không hẳn là sẽ có những độc giả trung thành (lại nhận xét vội vàng quá chăng?). 

Trở lại với bản thân cuốn sách này, tôi mua trong khi cố gắng đọc nhiều tác giả Việt Nam hơn, ý tôi là những tác giả đương đại, những người có thể viết về những thứ gần với cuộc sống bây giờ. Có lẽ là một tín hiệu vui khi bước chân vào nhà sách và bạn thấy mấy cái kệ dành cho tác giả Việt đã được trưng bày khá “hoành tráng” và bắt mắt, có lẽ không kém kệ sách của tác giả Trung Quốc là mấy. Tuy nhiên để chọn một cuốn sách đem về lại không dễ chút nào. Tôi đã trở nên già quá chăng? Có lẽ chẳng có lúc nào tôi thấy mình già như vậy khi đứng trước những cuốn sách Việt bán chạy nhất nước (lại lan man rồi...).

Chinatown bắt đầu với một chuyến tàu điện ngầm và khi kết thúc, cũng vẫn là chuyến tàu điện ngầm đó. Giống như một hành trình không có điểm kết thúc và có lẽ vì vậy, nó hợp với cách nhà văn chọn để kể. Không theo một trật tự thông thường – điều rất có thể biến câu chuyện thành một bi kịch sến súa, hiện tại và ký ức cứ thế tuôn trào, sít sao, đuổi bắt nhau – một màn độc thoại nội tâm liên tục, liên tục tạo thành một nhịp điệu nhanh và bình tĩnh lạ thường. Không có chỗ để người đọc xen vào những lâm li cảm động của chính mình. Mà người ta có lẽ cũng sẽ không cảm động trước một con người  - nhân vật nữ chính, người dường như bình tĩnh khi đối mặt với mọi biến cố đời mình (người đời cần những bi kịch gào thét để có cơ hội bày tỏ sự nhân từ). Nhưng dư âm đọng lại đâu đó, bởi cái hành trình không có hồi kết đó, những chuyến tàu điện ngầm cứ thế tiếp diễn và người ta gần như phỏng đoán rằng cuộc sống của cô và con trai sẽ kéo dài như thế mãi mãi, trong những hồi tưởng xa xăm về quá khứ và sự vắng bóng tình yêu – cái người đã ám ảnh toàn bộ thế giới tâm hồn của cả hai mẹ con ở thực tại…

Tôi cũng ghi nhớ ở Chinatown là thi thoảng nó lại đem đến cho tôi chút cảm giác mờ ám của trinh thám, chút giễu nhại hài hước mà thường bắt gặp ở nhà văn nam hơn nhà văn nữ và vài nét chấm phá về cuộc sống của người Hoa ở Sài Gòn. Họ cũng là những người sống trong tâm thế xa lạ ở một đất nước không phải quê hương. Và nó cũng khó khăn cho họ hơn là ta có thể hình dung…

Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (Nguyễn Nhật Ánh, NXB Trẻ, 2016)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Trên kệ sách


Về những cuốn sách tôi đã đọc từ khoảng tháng 9 năm ngoái đến nay. Đã thấy được là tôi quá lười để có thể viết dài dòng về mấy cuốn sách mà tôi đã đọc. Thế nên tôi hạ quyết tâm là: không từ bỏ nhưng viết thật ngắn thôi, chỉ cần vừa đủ để mình không quên. 


Những đứa con của nửa đêm (Salman Rushdie, Nham Hoa dịch, NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam, 2014)

Nên bắt đầu từ cuốn này. Tôi đang đọc trong những ngày tháng 9/2015 và hẳn là lê lết sau đó. Một cuốn dày bự, nhìn lại thì thấy mình khá phi thường (vì là một độc giả kiên nhẫn, thế thôi). Tôi không nghĩ mình thích cuốn sách theo cách mà nó đã quyến rũ tôi mang về. Nhưng nhìn chung thì tâm thế đọc sách của tôi không còn ở giai đoạn tuần tự kiểu mong ngóng – háo hức – nín thở  – òa vỡ vui sướng hay ngược lại, ở bước cuối cùng này: hụt hẫng thất vọng. Tôi rất bình tĩnh. Vì không hy vọng nên cũng không thất vọng.

Cuốn sách không tệ chút nào, dĩ nhiên. Nếu nó tệ thì hẳn tôi chẳng bao giờ đọc xong. Nó chỉ kỳ lạ. Kể chuyện một cách khoa trương, màu mè và hài hước. Có lẽ đó một dạng tài năng. Bạn sẽ hiểu có cả một lịch sử quốc gia trong cuốn sách này, một câu chuyện nghiêm túc và vĩ mô. Đồng thời, cuộc đời những con người đã được kể lại không thể ít màu sắc truyền kỳ hơn. Giống với thần thoại mặc dù tính hiện thực vẫn vẹn nguyên. 

Điều may mắn là, cuốn sách rất nặng trên tay nhưng tôi đã đọc một cách khá hăm hở. Cũng nhờ cách kể chuyện ít nhàm chán của nhà văn vậy.

Cánh cửa (Sazbó Magda, Giáp Văn Chung dịch, NXB Văn học & Nhã Nam, 2015)

Đọc vào những tháng cuối của năm ngoài, nếu tôi nhớ không lầm. Và có thể nói đây là một trong những cuốn hay nhất tôi đọc trong năm rồi. 

Trong năm rồi, tôi vẫn nhớ Bóng hình của gió là một tác phẩm hay tuyệt. Nhưng nếu cuốn tiểu thuyết của Carlos Ruiz Zofón thi thoảng vẫn gây cho tôi cảm giác mỏi mệt bởi sự tham lam của nó, thì Cánh cửa tuyệt không có điểm phàn nàn. Cần có tài năng thế nào để viết về cuộc đời một người giúp việc nhà – một nghề nghiệp dường như chỉ hé mở một cuộc đời bình thường, tẻ nhạt mà gây sửng sốt, khiến người đọc rúng động, bâng khuâng và không thể không luôn tìm thấy sự hấp dẫn ẩn nấp nơi  sự khép kín dị thường, trong một chân dung văn học hết sức độc đáo, giữa sự bình lặng của những dòng văn?

Cánh cửa khiến tôi có cảm giác tất cả những gì tôi đọc sau này sẽ đều rơi vào tình cảnh nhàm chán, không thể nào hay hơn. Điều đó vừa đúng lại vừa không đúng. Quả thực tôi ít tìm thấy tác phẩm hay độ sau này (mặc dù mấy cái hội sách ngày càng lớn và doanh thu ngày càng khủng). Nhưng dĩ nhiên, vẫn còn đó những tác giả khiến bạn thán phục, ví như, may quá mà đời còn Alice Munro…

Cuộc đời yêu dấu (Alice Munro, Nguyễn Đức Tùng dịch, NXB Trẻ, 2015)
Ghét, Thân, Thương, Yêu, Cưới (Alice Munro, Trần Hạnh-Đặng Xuân Thảo-Hạnh Mai dịch, NXB Văn học & Nhã Nam, 2016)

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Thời gian...


Tôi đang đọc cuốn Những đứa con của nửa đêm, cuốn sách dày cộm được đặt đầu giường cả tháng nay. Chỉ đang ở những trang 50-51, và có thể nói là nó có một khởi đầu, tuy hơi rối rắm nhưng đan xen những dòng văn khá hài hước.

Trước cuốn này, tôi đọc Từ thăm thẳm lãng quên, và tôi nghĩ cần phải ghi lại đôi dòng về tiểu thuyết của nhà văn Pháp đoạt giải Nobel văn chương năm 2014 – Patrick Modiano (chả hiểu sao tôi hay nhầm thành Mobiado, nếu không lầm, là một nhãn hiệu điện thoại hạng sang). Cái tin nhà văn đoạt giải Nobel tôi đọc thấy khi đang nghiền ngẫm cuốn Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối. Một sự trùng hợp (rồi sau đó Nhã Nam phát hành liền thêm hai cuốn tiểu thuyết của ông). Có lẽ cần có thêm Phố của những cửa hiệu u tối rồi ghi lại cảm nhận một thể  - bộ ba này được nhắc đến cạnh nhau, cùng là những tiểu thuyết ngắn với cảm thức về quá khứ, sự trôi giạt, sự mất mát. Nhưng thời điểm này có thể mua Phố của những cửa hiệu u tối nữa không thì tôi không chắc. Xuất bản sách giấy rơi vào một nghịch lý lạ lùng: ở mặt bên này, bạn thấy người ta than van nó gặp khó bởi sách điện tử (trên hết là tình trạng xâm phạm bản quyền trên mạng cũng như từ mấy lò sách in lậu); nhưng ở mặt bên kia, lượng sách phát hành vẫn bán hết veo (và tôi nghe rằng, lượng phát hành trên thực tế luôn nhiều hơn so với số bản thống kê chính thức in ở trang đầu hay cuối cuốn sách - có thể chỉ là lời đồn nhưng là một lời đồn kỳ lạ, ta không biết phải cười hay khóc khi nghĩ đến nó, cái phần trăm mà lời đồn đó có thể là sự thật).

Tôi gặp khó khăn với cuốn Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, ở những cái tên và địa danh tiếng Pháp. Tôi luôn sẵn có một câu trả lời, đơn giản thôi “Paris, Pháp” khi ai đó hỏi tôi muốn được đặt chân đến đâu. Mười mấy năm trước hay mười mấy năm sau, cái từ đó vẫn phun ra mà chủ nhân của tiếng nói vẫn chẳng biết tại sao và thậm chí chẳng mảy may bận tâm đến việc tìm hiểu về cái mình đang nhắc đến. Để rồi khi phố xá, quảng trường, những nơi chốn, những con đường giăng mắc trong cuốn sách mỏng của Patrick Modiano, tôi choáng váng. Tôi sẽ lạc mất thôi. Tôi thậm chí còn không thể phát âm cho ra hồn, đừng nói đến việc tôi sẽ nhớ. Dĩ nhiên, ở khía cạnh này, cuốn tiểu thuyết của Patrick Modiano thật dễ nể. Như một tấm bản đồ được phả vào sự sống, những nơi chốn được tỉ mỉ gọi tên, trong sự gắn kết xúc cảm của những con người đã đến, đã đi qua, đã trốn chạy: nếu Paris trong thực tế chẳng biết từ đâu và từ bao giờ đã vốn được khoác tấm áo huyền thoại, rất có khi đẹp hơn chính nó thì Paris của Patrick Modiano cũng chân thực, rắc rối, không ít bí hiểm, nơi mà dường như cứ khiến người ta phải buông mình vào ký ức. Tôi sẽ lạc, tôi nghĩ, nếu quả thật có ngày tôi đặt chân đến Paris.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Đọc Takazi Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương


Thời điểm cuốn sách có mặt tại Việt Nam (cuối năm 2014 thì phải), nó trở thành tác phẩm mới nhất của Haruki Murakami, nghe bảo là tác phẩm đầu tiên được xuất bản sau ba năm hoàn thành bộ tiểu thuyết 1Q84. Dường như đây là chu trình sáng tác của nhà văn : sau những tiểu thuyết đồ sộ, Haruki Murakami sẽ "nghỉ xả hơi" bằng những tác phẩm nhẹ nhàng hơn, về độ dày cũng như nội dung. Kỳ thực tôi vẫn ưa thích những tiểu thuyết ngắn của ông, không hẳn vì lười đọc, mà vì chúng gần gũi và tập trung vào cốt lõi câu chuyện hơn. Những tác phẩm dài hơi, suy cho cùng, là sự thêm thắt của những tình tiết siêu thực. 

 Tsukuru không màu (tôi viết tắt như vậy, và cũng thường chỉ nhớ được như vậy), là một cuốn sách gợi nhắc về tuổi trẻ. Phảng phất cái gì đó của Rừng Nauy nhưng nhẹ nhàng và sáng sủa hơn (dạo xưa tôi chỉ thoáng đọc Rừng Nauy thông qua bản lược đăng trên mạng, sự so sánh như vậy có thể chông chênh, tuy nhiên từ những gì người ta nói qua nhiều đến tác phẩm làm nên tên tuổi của Haruki Murakami thì không quá khó để khẳng định điều đó). Cốt truyện của Tsukuru không màu tương đối rõ ràng, với chủ đề xoay quanh tình bạn nhưng trọng tâm vẫn là việc tìm kiếm bản thân (mặc dù kết thúc vẫn có thể là không tìm thấy điều gì cả) – luôn luôn, điều này có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm của Haruki Murakami. Trong lúc đọc Tsukuru không màu, tôi thoáng có suy nghĩ: nếu đây là tác phẩm thay thế cho Rừng Nauy, nó có gây tiếng vang lớn như cuốn tiểu thuyết ấy không? Như một cú lội ngược dòng, sau nhiều năm, nhà văn Nhật Bản như đang viết những tác phẩm đầu tay (chỉ như thôi, bởi để viết cái gì đó đơn giản hơn lẽ thường, đó có thể lại là kết quả của một bộ óc tinh vi). Tôi không chê cuốn tiểu thuyết mới. Điều tôi muốn nói là cho bất kỳ ai muốn khởi đọc Haruki Murakami thì Tsukuru không màu lại vô cùng thích hợp. 

Câu chuyện của Tsukuru, giữa những người bạn mà tên họ đại diện cho những màu sắc (và anh chàng nghĩ bạn bè của mình, như tên của họ, là những người "có màu", còn bản thân anh chàng thì từ tính cách và tên họ của mình, là người "không màu"). Một tình bạn đẹp bị đứt đoạn bởi một biến cố mà Tsukuru không hề hay biết, ngoại trừ cái sự thật là một ngày đẹp trời, cả bốn người bạn thân đều đồng loạt từ mặt anh. Thường trong quãng đời tuổi trẻ, người ta hay rơi vào nỗi đau do tình yêu gây ra nhưng trong câu chuyện của Tsukuru, anh suy sụp tinh thần bởi cùng lúc mất đi bốn người bạn thân, mà hoàn toàn không biết lý do tại sao. Ở điểm này, ngòi bút Haruki Murakami cho thấy hết sự tinh tế và thấu hiểu - trong cách viết về nỗi đau, không ồn ào, không gào khóc, mà âm thầm hủy hoại tâm hồn , một cái chết tinh thần mà chính chủ thể rất nhiều năm sau mới thấu nhận; tinh tế hơn nữa ở cách bỏ lửng lý do – Tsukuru lặng lẽ chấp nhận hiện thực, tuy trong lòng tồn tại câu hỏi, anh đơn giản là bỏ đi. 16 năm sau, lần đầu tiên có người bước vào thế giới của Tsukuru và khơi dậy câu chuyện năm nào. Chỉ khi đó, Tsukuru mới quyết định tìm lại bốn người bạn, truy tầm cả quá khứ lẫn tương lai. Khi cuốn tiểu thuyết kết thúc, cuộc đời Tsukuru vẫn đứng giữa hai cánh cửa, một cái có thể dẫn đến một thế giới mới, nơi hạnh phúc mỉm cười với anh, cái kia thì không, Tsukuru sẽ tiếp tục đơn độc như đã từng. Haruki Murakami khôn khéo, ông để độc giả có sự chọn lựa riêng nhưng cái kết u ám không phải là cái đích nhắm đến, có thể tin tưởng như vậy. Đại thể đó là nội dung cuốn sách. 

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Đọc Bóng hình của gió

Đây là cuốn sách, nếu nhớ không nhầm, ngốn của Còi Cọc nguyên một đêm nào đó. Khi tặng lại cho tôi, sau những dòng viết lạ lùng liên quan đến chim cánh cụt, con gì đó hình như là con cúm và con kiến, lời đề tặng của bạn ấy cũng đến với điểm chính: hy vọng tôi sẽ đọc cuốn sách mà không phải nâng lên bỏ xuống mấy bận (việc tôi đọc sách một cách lê thê lê lết có lẽ đã đến tai bạn mình, thiệt ngại!). Sự thực đúng là tôi hiếm khi có thể đọc cuốn sách nào đó liền một mạch, thường sẽ luôn có cái gọi là "nâng lên bỏ xuống mấy bận", đặc biệt là với những cuốn sách dày cộm. Tuy nhiên nếu bạn tôi có thể dành cả đêm để đọc một cuốn sách, thì bản thân hành động này với tôi gây hiệu quả chẳng khác gì cụm từ "made in Japan". Dĩ nhiên, Bóng hình của gió là một cuốn sách đầy hấp lực. Tôi tin một khi đã bắt đầu đọc thì dù là ai cũng rất nhanh chóng muốn ngấu nghiến nó tới trang cuối cùng.

Với một nhan đề phảng phất sự lãng mạn, lại được in kèm dòng chữ "phiêu lưu ly kỳ", từ cái nhìn đầu tiên, tôi có phần hơi nhầm lẫn đây là sách dành cho lứa tuổi thiếu niên, thể loại trinh thám. Nhưng dù cái sườn dẫn dắt câu chuyện mang yếu tố ma mị và xuyên suốt cuốn sách là hành trình khám phá sự thật đằng sau những bức màn bí ẩn được sắp xếp khéo léo, tài tình, tôi nghĩ Bóng hình của gió không nên được ghép cho bốn từ "phiêu lưu kỳ bí". Nó có nhiều hơn thế:

Một vẻ ngoài mang phong cách huyền bí, với những màn theo đuổi kịch tính, những bí mật được giăng cài công phu, với đôi chỗ "tung hỏa mù", người đọc được dẫn dắt vào một mê cung, hệt như với Daniel, đã bước vào thì không thể ngừng khao khát kiếm tìm lời giải bên trong. Ấy thế xét về bản chất, Bóng hình của gió mang cốt truyện của một bộ phim tâm lý xã hội: một câu chuyện trải dài 30 năm, bao phủ bởi bóng đen chiến tranh, trong bối cảnh xã hội với sự phân tầng giai cấp cùng những vòng xoáy định mệnh nghiệt ngã; trên cái nền đó, bản nhạc đời được tấu lên với đầy đủ sắc thái: Tình yêu, tình bạn, sự thù hận, tội ác, nỗi cô đơn, sự mất mát, những hồi ức đau buồn chôn vùi con người trong bóng ma quá khứ không thể nào quên. Bóng hình của gió đẫm chất bi kịch, và sức nặng cùng dư âm của nó nằm cả ở đó, trong mỗi nhân vật, mỗi tình tiết, tuyến chính cũng như tuyến phụ, mỗi nhân vật mỗi số phận và chính những câu chuyện riêng cũng đạt đến độ "hay kinh người".

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Hãy chăm sóc mẹ & Chàng trai vườn nho


Hai cuốn này được tặng vào năm rồi. Dẫu Hãy chăm sóc mẹ hứa hẹn một câu chuyện xúc động hơn, trên thực tế tôi đã chọn đọc Chàng trai vườn nho trước. Có những nỗi xúc động trên đời mà việc tiếp nhận nó kỳ thực rất khó nhọc, trong đó dứt khoát có nỗi xúc động gây ra bởi tình mẫu tử. Luôn luôn, tình yêu với người mẹ hòa trộn trong đó cảm giác ân hận, sự day dứt – ta yêu mẹ mình bao nhiêu, cuối cùng trước mẹ, một người con vẫn vẹn nguyên mặc cảm tội lỗi. 

Một cảm giác thực nặng nề khi tôi đọc Hãy chăm sóc mẹ, tôi có thể hình dung rằng hẳn mình sẽ giống như cô nhà văn trong truyện, nhảy bổ vào sở cảnh sát và gào toáng lên tuyệt vọng "Hãy tìm mẹ tôi". Hoặc tôi sẽ phát điên trước khi làm thế. Ai có thể chịu đựng nổi, khi không biết mẹ mình đang ở đâu, trong một thế giới đã trở nên xa lạ với bà, giữa những ngày đông hay ngày hè; và mọi bất trắc đều có thể xảy ra… Tôi lật nhanh đến những trang cuối và mong đọc được một kết thúc có hậu. Song có lẽ câu chuyện cần một thông điệp đầy sức mạnh, mà cái kết có hậu có thể phá hỏng nó. Tôi không khóc. Nhưng nước mắt dường như thấm tim tôi…

Với cuốn sách đọc trước đó, Chàng trai vườn nho, có thể khái quát trong vài chữ: giống một kịch bản phim hơn là một tác phẩm văn học, ít dư âm nhưng cũng đủ dễ thương và thuần giải trí lành mạnh.

Hãy chăm sóc mẹ - Shin Hyung Sook

Mối quan hệ giữa mẹ và con gái sẽ thuộc một trong hai dạng, hoặc là biết rất rõ về nhau hoặc là giống như người xa lạ - tr. 24.

Người ta thường nói rằng khi đứa trẻ khóc, bà nội sẽ bảo, "Con khóc kìa, mau cho con bú đi", còn bà ngoại thì sẽ bảo, "Cái đứa trẻ này, mẹ thì đang mệt sao cứ khóc mãi vậy?" - tr. 239.

… tất cả những việc đã xảy ra thực chất đều hòa mình vào trong hiện tại, những việc ngày xưa đều trộn lẫn vào những việc hôm nay và những việc hôm nay lại trộn lẫn vào những việc trong tương lai và những việc trong tương lai lại trộn lẫn với những việc ngày xưa, chỉ là chúng ta không thể cảm nhận được mà thôi… - tr. 267.

Ngôi nhà là một thứ thật kỳ lạ. Tất cả mọi thứ đều hỏng hóc đi khi con người tác động đến, đôi khi ta có thể cảm nhận được chất độc của con người nếu ta tới gần người đó, nhưng nhà cửa lại không như vậy. Cho dù một ngôi nhà bền đẹp bao nhiêu mà không có người qua lại thì chẳng mấy chốc cũng sẽ bị phá hủy. Một ngôi nhà chỉ tồn tại khi có người sống trong đó, quét dọn lau chùi, chăm sóc nó – tr. 270-271.

(Lê Hiệp Lâm và Lê Nguyễn Lê dịch, NXB Hà Nội và Nhã Nam, 2013)

Chàng trai vườn nho – Kim Rang

"Sao anh lại yêu em?"

"Em hỏi tại sao lại yêu à?"

"Vâng."

"Ai lại hỏi thế chứ? Người nói ra được lý do mình yêu thương người khác, chứng tỏ người đó không hề biết yêu."
…

"Đúng là như vậy. Khi yêu một ai đó, ta chẳng cần biết lý do vì sao ta yêu họ, ta chỉ có cảm giác đó như một sự mang ơn."

"Mang ơn ạ?"

"Ừ."

"Sao lại là mang ơn?"

"Nghĩa là ta cảm ơn người đã cho mình được nhìn thấy gương mặt mình nhớ nhung mỗi sáng thức dậy, ta cảm ơn vì người đó đã cùng mình ăn những món ăn mình thích, cảm ơn vì đã cùng chia sẻ thời gian hữu ích cho nhau, cảm ơn vì có thể được cùng nhau nhìn thấy gương mặt già nua khi về già, và cảm ơn vì người đó coi gương mặt già nua của mình là một vẻ đẹp, chứ không nghĩ nó nhăn nheo xấu xí."

(tr. 355 – 356)

(Khánh Lan dịch, NXB Lao Động và Nhã Nam, 2012)

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Tiếng chim hót trong bụi mận gai


Cuối cùng cũng đọc xong. Dài quá, tôi nghĩ, cả trong quá trình đọc lẫn khi đọc xong. Nửa năm, và giữa chừng là mấy cuốn khác, chủ nhật rồi tôi mới đi đến trang cuối cùng. Một ngày cuối tuần nhiều mưa, và chẳng có cách nào chống chọi sự buồn chán bằng cách đọc một cuốn sách… Dẫu đó là một cuốn sách, khi đọc xong, tôi phát hiện nó buồn quá thể…

Tôi nhớ bộ phim cùng tên, tuy không hẳn là fan của phim này, khi ấy tôi còn quá nhỏ, song những ấn tượng đọng lại chưa phai mờ: Mecghi rực rỡ, đầy quyết liệt và cứng cỏi –  như một con chim sẵn sàng chịu chết; và ở thế đối lập, cha Ralph trầm tĩnh, chừng mực và đầy lảng tránh – một con chim ẩn mình chờ chết. Điện ảnh đã chọn những gì đắt nhắt, điều này không hẳn không có lý. Người xem muốn một câu chuyện tình yêu đầy ám ảnh thì họ đã có nó. Tiểu thuyết kể một câu chuyện rộng hơn, một lịch sử về gia đình Kliri. Có lẽ vì vậy mà tình yêu của Mecghi và cha Ralph dường như ít đau đớn hơn so với phiên bản điện ảnh, nhưng tình yêu ấy buồn, nỗi buồn dai dẳng, đậm sâu như chính số phận mỗi con người trong gia đình Kliri ở vùng đất khô nghiệt Đrôghêđa, như màu tro của hoa hồng, cái màu áo Mecghi mặc khi nàng đã về già…

Colleen McCulough xây dựng một cha Ralph quá hoàn mỹ, mà vẻ điển trai đĩnh đạc của diễn viên Richard Chamberlain năm nào hóa ra cũng chưa đủ. Không chỉ thế, cha có tài năng của một nhà ngoại giao, một người thông minh, bản lĩnh, tự chủ và đầy lý trí. Và cha sẽ mãi như vậy, nếu không có Mecghi. Mecghi phá vỡ sự cân bằng tỉnh táo trong Ralph. Chỉ với Mecghi, người ta thấy Ralph vẫn là một con người mà trước sự rung động, ông đầu hàng, dù chỉ trong những khoảnh khắc. Trong trí nhớ của tôi, cha Ralph trong phim “nhát gan” hơn. Trong tiểu thuyết, Ralph không phủ nhận tình cảm của mình. Ông chỉ không chọn tình yêu với Mecghi, và không phải vì ông “nhát gan” hay vì tình yêu với Chúa quá lớn, mà vì ông không muốn đánh mất những gì mình đã có, sẽ có nếu chọn Mecghi, thay vì chức phận của mình (vả chăng, nếu chọn Mecghi, ông chỉ có nàng, nhưng chọn danh vọng, trên thực tế Ralph có cả hai). Mecghi trong tiểu thuyết, ngược lại, dường như ít rực rỡ hơn so với hình ảnh Mecghi của nữ diễn viên Rachel Ward, cũng ngây thơ và dịu dàng hơn. Tôi nhớ sự ngoan cường của Mecghi trong phiên bản điện ảnh, nàng làm chủ số phận mình, đấu tranh cho tình yêu, thứ tình yêu mãnh liệt, pha trộn giữa đắm say và thù hận. Mecghi dưới ngòi bút của Colleen McCulough da diết, tha thiết không kém, song ở những khúc quanh nào đó, nàng xuôi theo dòng chảy định mệnh. Nàng mang trong mình nỗi buồn nhiều hơn là sự đau đớn phẫn nộ và kể cả khi nàng căm thù thì nỗi căm thù ấy cũng mang dáng dấp của một nỗi buồn lặng yên. Và nàng cuối cùng đã chọn sống bằng cách ngắm nhìn nỗi buồn của mình, chấp nhận suy tàn cùng nó trong đời sống cô quạnh ở Đrôghêđa…

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

Ghi chú về tuyển truyện Tình yêu, tội ác & trừng phạt

1. Tuyển truyện gồm 14 truyện ngắn, xuất bản (tái bản) năm 2013. Cuốn sách tôi nhận được từ nhà sách khá cũ, một phần vì kiểu giấy in đặc trưng của NXB Trẻ, một phần vì vài trang có vết rách ngang. Bản thân ấn phẩm còn mắc lỗi về trật tự số trang. Nhưng nói chung tôi khá dễ chịu, chỉ cần đủ trang, chữ vẫn đọc đủ đầy thì chấp nhận được.

Nhớ lại lần đầu tiên mua sách online, chuyện cách đây nhiều năm, là mua ở nhà sách S. Trong số sách nhận được có một cuốn thiếu hẳn nhiều trang. Khi gọi điện phản hồi, nhận ra là họ sớm đã biết cái lỗi này (hẳn ngay từ quá trình in ấn đã mắc phải sai sót ở một số cuốn) rồi hứa hẹn sẽ đổi trả. Nhưng sau im ru. Từ đó, tôi tìm mua sách ở nơi khác, nơi cũng gắn bó mua đến bây giờ. Ờ, tôi chỉ “vĩnh biệt” cái gì đó trong một kiểu trường hợp tương tự như thế mà thôi.

2. 14 truyện viết rải rác trong những năm từ 1986 đến 2004. Truyện đầu tiên trong cuốn sách là Tướng về hưu viết năm 1986.

Tôi chắc mình nghe đến cụm từ “Tướng về hưu” trước khi biết đến cái tên Nguyễn Huy Thiệp. Có lẽ một buổi học văn nào đó trong những năm tháng học trò xa xưa, một cô giáo dạy văn đã thoáng nhắc qua, về cái tình tiết “cô con dâu làm ở bệnh viện phụ sản, công việc là nạo phá thai và hàng ngày các rau thai bỏ đi cô mang về cho chó, lợn ăn”. Trong ký ức lờ mờ, tình tiết này hẳn tôi cũng đã từng đọc thấy trên báo, kiểu người ta phân tích về nhân vật – cái sự vô cảm đó, cái hiện thực cuộc sống với những giá trị đảo lộn khiến ông tướng về hưu thất kinh, sống dần chết, đại loại vậy. Tướng về hưu cũng được dựng thành phim và hẳn điện ảnh cũng góp phần thêm vào sự nổi tiếng của nó.

Tên tuổi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thì mãi sau này tôi mới biết, khi ông không còn sáng tác (một cách chính thức) nữa. Ông bán tác quyền cho NXB Trẻ, chiều chiều đưa cháu nội đi học, cà phê hay dạo phố - đó là những gì tôi nhớ được, từ một bài báo, về tuổi già của nhà văn. Với một ngòi bút hiện thực, lạnh lùng và tỉnh táo ngần ấy, kể cũng khó hình dung về sự “tận hưởng tuổi già nhàn nhã” ấy, khi mà cuộc sống dĩ nhiên vẫn cần nơi Nguyễn Huy Thiệp khả năng “xông pha trận mạc” như “con ngựa bất kham” năm nào. Nhưng có lẽ ai cũng già, và khi già thì người ta hay nghĩ là thời của mình đã qua. Cũng có thể có lý do khác. Song tôi cứ nghĩ biết đâu, rất lâu sau này, hậu nhân lại tìm thấy trong những di cảo của ông ấy, những thứ chưa được xuất bản khi còn sống, viết trong chính những năm tuyên bố “nghỉ hưu” ấy. Biết đâu đấy!

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Giấc mơ thiếu vắng nụ cười


Cuối năm rồi, tính theo âm lịch, tôi tự thưởng cho mình vài cuốn sách. Hai tập truyện ngắn, năm tiểu thuyết. Tất cả, ba trăm trang đổ lại. Được tặng kèm thêm một cuốn sách về những cuộc đối thoại của vị một đạo diễn cùng một DVD phim hoạt hình. Rõ chán cái đầu DVD lâu ngày không sử dụng nên hỏng rồi. Về sách thì không chỉ những cuốn mới mua, tôi còn ít cuốn đang đọc dở/chưa đọc nữa cơ. Tôi hoàn toàn dự định sẽ ngốn hết tất cả trong dịp Tết này nhưng đến hôm nay cho thấy, dự định đấy không thành. 

Mùa xuân, tôi bỗng cảm thấy đọc sách trở thành một việc làm quá có tính trì trệ. 

Khi đọc, nhiều lúc là cảm thấy một cái gì mở ra trong lòng, giống như ngôi nhà với những cửa sổ mở rộng và tôi lao đến những cửa sổ đó, ngắm nhìn nắng và gió và những chân trời xa tít. Và tôi hăm hở cái ý nghĩ mình sẽ ngồi ngay vào bàn viết, bên cái cửa sổ đó, và rồi sẽ vung bút và viết được cái gì hay ho như những thứ mình vừa đọc. Đó không phải là điều tôi muốn ở vai một người đọc đơn thuần. Tôi đã nghĩ, một ngày nào đó tôi sẽ chỉ đọc sách mà thôi, và không viết bất kỳ thứ gì nữa, ngoại trừ thư tư vấn hay đơn kiện hay giấy tờ pháp lý các thứ. Tôi cảm thấy chỉ đọc thôi thì dễ dàng hơn cho mình. Chỉ là… chính tôi cũng không chắc nếu không muốn viết thì liệu tôi có yêu thích cái việc đọc không? Câu chuyện giữa viết và đọc với tôi giống như câu hỏi con gà có trước hay quả trứng có trước. Có lẽ vì không thông minh, tôi đã chẳng có tí não nào để trả lời câu hỏi đó.

Cũng có nhiều khi, ngược lại, đọc với tôi nghĩa là những cánh cửa khép kín vẫn khép chặt, tôi cảm thấy chính cái điều có trong đôi mắt mình, khi tôi thử chụp một hình “tự sướng” vào đầu năm nay, tôi nhìn thấy rõ hơn đôi mắt của mình. Cái có trong mắt tôi là “không gì cả”, sự lạnh lẽo vô hồn ấy nơi một phụ nữ, tôi thấy mình cũng không yêu nổi mình. 

Có lúc tôi chán mấy cuốn sách khủng khiếp. Chắc chắn là tôi không có thứ cảm xúc này trước đây. Và đó không phải vì yếu tố tuổi tác hay vì hồi còi báo động rằng thói quen đã đến lúc nhàm chán và đang trên đà mục rỗng. Tất nhiên có những cuốn sách làm cho bạn chán, nhưng chúng thường không phải là dấu chấm hết cho sự đọc. Tôi cảm thấy sự bội bạc trong cả những gì tôi thích nhất, và sự phù phiếm của văn chương. Tôi hiểu lẽ thường vẫn thế, chỉ khi ta rất, rất thích cái gì ta mới cảm thấu tận xương sự bội bạc của nó. Nhưng tôi vẫn nghĩ con người nắm giữ khả năng bội bạc, còn sách, và văn chương thì không. Tôi đề cao văn chương nhưng rồi tôi thấy văn chương cũng như một món ăn. Có nhiều thứ chả ra gì. 

Bạn Còi từng nói “sách là người bạn đặc biệt” của bạn ấy. Tôi hẳn không thể so sánh hết tình cảm của tôi với sách và tình cảm của bạn mình với sách. Có thể nói cùng một câu, rằng “tớ thích (đọc) sách” nhưng không thể nói là tình cảm ấy giống nhau. Tôi thường thấy bạn Còi yêu sách một cách dung dị, nghĩa là hầu như hạnh phúc. Còn tôi yêu sách, thật ra là văn chương, đôi khi, tình yêu ấy khổ sở. Và tôi nghĩ, biết đâu đến lúc nào đó, tôi sẽ căm thù sách. Tôi vẫn biết  khi người ta quá khổ sở về một điều gì đó, người ta sẽ căm thù nó mà vẫn tiếp tục yêu nó. Tôi biết đó là bi kịch. Và tôi chỉ muốn tránh cho xa.

Ta cứ ngồi lặng im thế…
Cõng lên vai… những muộn phiền của đêm nào thức trắng
Tách ra nỗi đau nào hồn nhiên, nỗi đau nào trĩu nặng…
Rồi đặt lên chăn gối một viên đá ướp lạnh
Những giấc mơ thiếu vắng nụ cười…

(Thơ Nguyễn Phong Việt)

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Ghi chú về Anh em nhà Caramazov

1. Cuốn sách dài gần một ngàn trang nhưng hầu như không cảm thấy vất vả khi đọc. Lý do: như trong bài viết giới thiệu của dịch giả Phạm Mạnh Hùng đã nói, Anh em nhà Caramazov là tác phẩm cuối cùng và vĩ đại nhất của Dostoyevsky song cũng là “cuốn tiểu thuyết dễ hiểu nhất, nhiều tính cụ thể nhất, bố cục sáng rõ nhất” trong số các tác phẩm của ông. Tuy nhiên cuốn sách cầm trên tay quá nặng. Tôi không hiểu tại sao với những cuốn dày thế này, người ta không dùng loại giấy mà NXB Trẻ ưa dùng để in. Từ lúc chưa đọc xong, bìa sách và gáy sách đã te tua trông thấy với những vết gãy không có khả năng vãn hồi ( T _ T ). 

2. Pamuk trong một bài viết về Anh em nhà Caramazov đã kể về hai lần đọc cuốn tiểu thuyết này của mình. 

- Lần đầu lúc mười tám tuổi: ông dẫn lời của Borges nào đó (có lẽ là Jorge Luis Borges, nhà văn nổi tiếng người Argentina theo những dòng giới thiệu về tiểu sử trên Wiki mà tôi tìm thấy khi tra Google): “Khám phá ra Dostoyevsky cũng giống như lần đầu khám phá ra tình yêu, hay biển cả - nó đánh dấu một khoảnh khắc quan trọng trong hành trình cuộc sống” và khẳng định: “Lần đầu đọc Dostoyevsky của tôi luôn luôn dường như đánh dấu khoảnh khắc tôi đánh mất sự ngây thơ”.

- Lần thứ hai: tuy không nói rõ bao nhiêu tuổi nhưng hẳn đã hoàn toàn trưởng thành, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ vẫn dành cho Anh em nhà Caramozov sự ngưỡng mộ nhưng có thể thấy trong cách đánh giá lần này, thay cho tinh thần hồn nhiên, lòng sẵn sàng yêu ghét những thứ mình đọc ở tư cách độc giả, Pamuk đã tiếp nhận tác phẩm bằng sự điềm tĩnh, cái nhìn thấu suốt của một người từng trải, với nhận thức chín chắn và cũng dĩ nhiên, còn trong vai trò một nhà văn. 

Qua hai lần đọc, đại thể Orhan Pamuk cho rằng có thể đọc Anh em nhà Caramozov khi nhận thức đã trưởng thành nhưng tốt nhất nên được đọc khi còn trẻ bởi những phản ánh của nó là “một trải nghiệm gây sốc đối với độc giả trẻ”. 

Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ còn chia sẻ nhiều suy nghĩ liên quan đến sự đọc cuốn tiểu thuyết của mình như: “người ta không thể không kinh ngạc về khả năng của Dostoyevsky trong việc sáng tạo nhiều nhân vật như thế mà lại khác biệt nhau đến thế và phả hơi sống vào họ trong tâm trí người đọc với chi tiết, màu sắc và chiều sâu thuyết phục đến thế” và “các nhà văn khác… tạo ra những nhân vật đáng nhớ, nhưng hầu như ta nhớ họ vì những đặc điểm lạ lẫm hay ngọt ngào” nhưng “trong thế giới của Dostoyevsky, những tâm hồn bị hành hạ của các nhân vật ám ảnh ta”, rằng những tranh luận của các nhân vật “mau chóng trở thành tranh luận về cuộc đời”… 

Tất cả những dòng viết của Orhan Pamuk là những chỉ dẫn hết sức tuyệt vời có khả năng lôi kéo người đọc đến với cuốn sách ông đang viết về. Dù vậy, khi đọc Anh em nhà Caramozov, tôi đã không còn nhớ được những gì Pamuk từng viết. Nhưng điều hay ho là khi đọc xong cuốn tiểu thuyết của Dostoyevsky, tôi lại muốn xem lại Orhan Pamuk đã viết gì về nó. Và khi đọc lần này, tôi thấy là mình hiểu sâu hơn.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Đôi lời về Đời tôi

Hơi quá lâu kể từ lúc tôi đọc xong cuốn này (tôi đã kịp đọc vài cuốn khác và ghi lại những câu hay ho mình cảm thấy – một đoạn thời gian chả ngắn tí nào đã trôi qua, thế đấy !). Sở dĩ tôi để cuốn này chịu số phận bị gấp lại ở nhiều trang vì ngay sau khi đọc xong, ấn tượng bởi cách nhìn tinh tế của tác giả đối với những chân dung văn học (ở đây là những nhà văn Đức), tôi đã muốn có thể lọc lại những chi tiết đắt giá liên quan đến những nhà văn này (bằng cách tìm hiểu sâu hơn về tiểu sử của họ, giá trị tác phẩm của họ và sau đó liệt kê tất cả, dĩ nhiên trọng điểm là phải làm sao đan cài cái nhìn hóm hỉnh, chân thực của Marcel Reich – Ranicki vào). Nhưng để làm cái việc này thì rõ là phải mất nhiều thời gian, và tôi cũng e việc trích dẫn cuốn sách trong trường hợp này, hẳn có thể là một sự xâm phạm thô bạo quyền tác giả. Thế là từ từ tôi lờ tịt cái hào hứng mình từng có. Và nói chung thì lâu dần, cái hào hứng ấy cũng tự động xẹp dần thôi. Dù sao, tôi vẫn muốn nói đôi điều về cuốn tự truyện này, một trong những cuốn sách đọc trong năm rồi mà tôi rất thích.

Cần mở ngoặc đôi điều là tôi không hề ưa cái việc thống kê những cuốn sách mình từng đọc, bao gồm các kiểu : đếm xem đã mua bao nhiêu cuốn, thích cuốn nào nhất, cuốn nào có ảnh hưởng nhất, cuốn nào gây thất vọng nhất..vv..vv (dù tôi có vẻ hay thủ thỉ thù thì về từng cuốn chăng nữa). Nên khi nói Đời tôi là một trong những cuốn tôi rất thích trong cái sự đọc năm rồi, tôi không chắc mình có thực sự đặt nó trong một tổng thể những cuốn mình đã đọc trong năm 2014 không. Có lẽ nên nói đơn giản là tôi thích thì đúng hơn. Nhưng nói thế thì phải đặt trong tổng thể tất cả những cuốn sách đã đọc à. Chỉ cái suy nghĩ ấy đã thấy kinh khủng rồi.

Đời tôi là một cuốn sách khá đặc biệt, mặc dù tự truyện là một thể loại mà thường tôi chọn đọc với ít nhiều khắt khe hơn so với tác phẩm hư cấu thông thường, nhưng cuốn này thì tôi mua mà cũng không lăn tăn nhiều lắm. Tự truyện của một nhà phê bình văn học thì lạ nên cũng đáng để đọc. Huống nữa thì đó là một cuộc đời đã trải qua những biến cố bi thảm trong lịch sử và có một cuộc sống đủ dài, đủ tầm quan trọng để kể lại đời mình. Giới thiệu sơ nét (trên bìa sách) thì thế này: "Marcel Reich – Ranicki (1920–2013) là nhà phê bình văn học Đức uy tín nhất nửa sau thế kỷ 20, nhận xét của ông có những ảnh hưởng đáng kể đến sự nghiệp của một nhà văn Đức”.

Và có lẽ để tăng hiệu quả bán sách, người ta đã phải chú thích thêm dòng chữ ở ngay bìa trước: "Tự truyện của Giáo hoàng Văn học Đức" khiến cho một người mù tịt về tác giả và có khuynh hướng suy nghĩ thật thà non nớt dại khờ như tôi ban đầu hơi băn khoăn về tính tôn giáo trong tác phẩm. Sém tí nữa tôi đã bỏ qua hai chữ "Văn học" để lầm tưởng đây là tự truyện của một Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo nào đó ( __ __ !). Và cũng có lẽ để tránh cảm giác khô khan cho độc giả, người ta cũng he hé một chuyện tình đẹp, cảm động, bất tử bên trong câu chuyện về cuộc đời nhà phê bình văn học này. Dù theo tôi thấy sau đó thì, khía cạnh tình yêu riêng tư không phải điều trọng yếu trong cuốn sách, dù những dòng viết về tình yêu (mà khi trích dẫn lại) tôi phát hiện chúng có khi còn hay hơn trong những cuốn tiểu thuyết tình yêu lãng mạn. Sự thực là những khía cạnh cá nhân được đề cập khá kín đáo và mặc dù Ranicki cùng người bạn đời của mình gần như sống bên nhau cả đời, dĩ nhiên không có lý do để nghi ngờ tình yêu của họ, song tình yêu ấy, người bạn đời ấy không ngăn ông thi thoảng qua lại với những người phụ nữ khác, và hẳn ít nhiều ông cho đó là bình thường.

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Nắng tháng tám - William Faulkner



Dù sở hữu một cốt truyện hấp dẫn: ban đầu (một phần do cách mà đội ngũ làm sách giới thiệu), bạn dễ nghĩ Lena hay Hightower là nhân vật chính, nhưng sau bạn nhận thấy nhân vật chiếm phần lớn tác phẩm là Joe Chirstmas, với cuộc đời phiêu bạt, chứa trong nó rất nhiều cay đắng, dục vọng, bạo lực, tội ác và cuối cùng là sự giải thoát; bên cạnh đó, những số phận con người, đa phần sống câm nín dưới bầu không khí dồn nén, ngột ngạt của nạn phân biệt chủng tộc, với không ít ám ảnh dày vò -  tôi thấy khá khó nhọc khi đọc tác phẩm này. Tôi đọc vào  mỗi cuối tuần hoặc những buổi tối và điều lạ lùng là cứ chỉ mươi trang thì tôi bắt đầu rơi vào trạng thái gà gật, dù việc đọc những cuốn sách có dung lượng lớn không hẳn quá xa lạ với tôi. Tôi được tặng cuốn này vào khoảng giữa năm nay. Và mãi gần đây tôi mới đọc xong.

Có lẽ bởi lối hành văn không hấp dẫn (với tôi): mang phong vị miền Nam, tuy khá chân chất nhưng vì lẽ nào đó, trong ngôn từ vẫn có sự trúc trắc đôi khi rất khó hiểu. Hoặc hiện thực khắc nghiệt (khiến tôi không thể không nghĩ vùng Jeffferson trong truyện hẳn giống với hoang mạc, bị thiêu đốt dưới ánh nắng mặt trời, chẳng có gì mọc nổi, khắp nơi chỉ là cát nóng bỏng, khô nghiệt, y như tâm hồn của dân xứ này). Dường như ít tìm thấy tình yêu trong Nắng tháng tám, dù hẳn là có chứ, ít ra với Byron và Lena, dù có ít biểu lộ bằng ngôn từ chăng nữa. Hay do thủ pháp đảo thời gian, đặc biệt khi càng về cuối tác phẩm, khiến vài tình tiết trở nên càng khó nắm bắt. Tôi thấy mơ hồ về cái chết của những nhân vật. Và tôi cũng không nhìn thấy thứ ánh sáng như lời bạt nhắc đến. Khi gấp cuốn sách lại, tôi chỉ nghĩ kết thúc có một tia hy vọng nào đó. Nhưng cụ thể là gì thì tôi không biết. Đọc lời bạt, tôi cứ liên tưởng đến một thứ ánh sáng choáng ngợp, lung linh và như là sẽ gột rửa tâm hồn người – kiểu ánh sáng tái sinh, sẽ xuất hiện vào khoảnh khắc kết thúc cuốn sách. Nhưng tôi đã lật qua hết những trang cuối tác phẩm mà chỉ bị những rối rắm làm trĩu mày. Tôi chưa nhìn thấy ánh sáng của vầng hào quang.

Trong cuốn sách có in kèm hai bài viết của tác giả Nhật Chiêu, hẳn để độc giả có cái nhìn rõ về Faulkner và những sáng tác của ông . Tuy vậy, bài viết in ở phần đầu cuốn sách lại bất đồ tóm tắt toàn bộ nội dung của tác phẩm, trong khi Nắng tháng tám hàm chứa nhiều tình tiết mà độc giả nhẫn nại có thể từ từ khám phá theo từng trang sách. Cái tóm tắt ấy như kẻ phá bĩnh, cái bất ngờ trong diễn biến câu chuyện nếu có thì cũng đã mất đi rồi. Bài viết in ở phía cuối, điểm qua những nét chính trong sáng tác và đồng thời tóm tắt hai tác phẩm khác trong sự nghiệp của Faulkner, nhìn chung không liên quan gì đến Nắng tháng tám. Tôi nghĩ sẽ hợp lý hơn nếu người ta bỏ qua cái đoạn tóm tắt ở phần đầu kia đi và thay vì viết tản mác về những tác phẩm khác thì tập trung vào chính bản thân tác phẩm trong cuốn sách này, ngõ hầu giúp độc giả hiểu sâu hơn qua lăng kính người khác. Việc khái quát những tác phẩm còn lại trong sự nghiệp của tác giả, nếu muốn, có thể dành chúng cho chính tác phẩm ấy trong cuốn sách thuộc về nó. Dù thật thà cho rằng đây là tác phẩm khiến mình cảm thấy vất vả khi đọc thì chính mấy điểm này trong hai bài viết in kèm mới là điểm khiến tôi thấy đáng tiếc nhất.

…đám đàn bà có thể tốt bụng mà không thực sự có lòng trắc ẩn. Đám đàn ông bây giờ cũng vậy, có lẽ. Nhưng chỉ có những mụ đàn bà xấu tính mới có thể tỏ ra tốt bụng với một người đàn bà khác đang cần lòng trắc ẩn – tr. 27.

Con người. Tất cả mọi người. Nó sẽ khước từ cả trăm cơ hội để làm điều thiện chỉ cốt đổi lấy một cơ hội xía vào việc người khác mà không ai mở miệng yêu cầu. Nó sẽ bỏ qua và quên thấy các cơ may, các thời cơ để làm ra tiền tài, danh vọng và việc thiện, và đôi khi cả việc ác nữa. Nhưng nó sẽ không bao giờ bỏ qua một dịp nào để xía vào việc người khác – tr.42.

Con người biết quá ít về đồng loại của mình ! Dưới mắt chúng ta, đàn ông và đàn bà đều hành động dựa theo cùng những lý do thúc đẩy ngay chính chúng ta, nếu chúng ta điên khùng tới mức làm những gì mà họ đang làm – tr.71.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Khởi sinh của cô độc – Paul Auster

Điều gì làm nên một nhà văn? Khi bạn viết một câu chuyện, một câu chuyện bạn có thể bắt gặp ở nhiều nơi, trong nhiều phận người, nhưng được diễn đạt theo một cách hoàn toàn của riêng bạn, mà cùng một câu chuyện ấy, người khác hầu hết chỉ có thể kể theo một cách, bằng cùng một giọng điệu, thế là bạn có một câu chuyện của riêng bạn, mang phong vị của riêng bạn, đó là văn chương, đó là nhà văn – ít nhất không tầm thường. Khi đọc Khởi sinh của cô độc – tôi thoáng có suy nghĩ ấy. Tôi nghĩ mình hiểu mà lại không hoàn toàn hiểu hết những gì Paul Auster viết. Sự kín đáo theo lối tiết chế của nhà văn khi viết về những khía cạnh thuộc đời tư của mình gợi mở sự hấp dẫn và trong chừng mực nào đó, hé lộ tài năng văn chương của ông.

Bạn cuối cùng đã nhìn thấy cái ở đằng sau bức màn nhưng dù vậy, bạn chỉ thấy được những gì được cho phép thấy, và dù vậy, bạn có thể minh định điều bạn thấy không thì không có gì chắc chắc. Đây cũng là khẳng định của Paul Auster trong hành trình cố gắng thấu cảm sự cô độc của con người. Trong cách ông viết về cha mình – tôi có suy nghĩ, điều làm nên sự đặc biệt, khía cạnh phức tạp, bí ẩn nơi con người mà cũng dễ có thể bị kết luận là tẻ nhạt, bình thường ấy chính là ở nơi cách ông nhìn, cách ông hiểu, cách ông tiếp cận và khai thác – những chất liệu tưởng chừng nhỏ bé, mờ nhạt thuộc về một con người, một cuộc đời dường như có ở đó mà dường như không hiện diện ở nơi nào. Nói khác đi, chân dung ấy đi vào lòng người – với chừng đó bí ẩn và chừng đó lý giải nhưng không bao giờ đủ – phần lớn nhờ tài năng người cầm bút, tất nhiên đằng sau đó, động lực của những trang viết là những trăn trở tình cảm mà nhà văn hướng về người cha đã khuất. Tôi cũng đồng thời thích phần Chân dung một người vô hình hơn phần Sách của ký ức. Tôi cùng lắm đọc cuốn này khoảng nửa năm trước thôi (nghĩa là phải ít hơn thời gian này), thế mà giờ nghĩ về, tôi thấy lạ lẫm quá chừng, đặc biệt là đối với phần thứ hai ấy. Sự trúc trắc trong ngôn từ dẫn đến những diễn đạt đôi khi gây khó hiểu là điều tôi không thích nhất ở tác phẩm (càng về sau mức độ càng nhiều, tôi có cảm giác như ăn phải cơm có sạn, nó làm tôi khó chịu, phải thừa nhận). Lòng nhiệt thành của tôi giảm đi, tôi thậm chí không sẵn sàng ngồi gõ lại những câu văn mình vốn đã đánh dấu lại để trích dẫn như thói quen mỗi khi đọc. Nhưng luôn có một thời điểm thích hợp nào đó. Như trong những ngày tháng mười, có những cơn giông vào cuối chiều, mưa rào trong đêm và sự cô độc ở đâu đó, xuyên qua không gian và thời gian, bạn nhìn thấy, sâu như lòng người…

Hôn nhân, trái lại, đã đóng sập cánh cửa. Sự tồn tại của bạn bó lại trong một không gian hẹp mà bạn phải không ngừng để lộ bản thân – và vì thế, không ngừng bị cưỡng chế phải nhìn vào bản thân, xem xét thế giới sâu hút của riêng mình. Khi cánh cửa mở ra thì chẳng bao giờ tồn tại vấn đề gì cả : bạn luôn có thể chạy trốn. Bạn có thể tránh những xung đột không mong muốn, dù là với chính mình hay kẻ khác, chỉ đơn giản bằng cách bỏ đi – tr. 25.

Dối trá là một cách mua sự phòng vệ - tr.26.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Tôi thích cô bé Scout hơn nhưng tôi nhớ cậu nhóc Holden


Tôi vẫn thường cảm thấy Giết con chim nhại và Bắt trẻ đồng xanh có một sự liên quan nào đó, dù thực tế hiển nhiên đó là hai tác phẩm hoàn toàn độc lập. Dù vậy, cảm giác về sự liên quan ấy mãi theo đuổi tôi. Sau khá nhiều lần bỏ qua việc đọc chúng, cuối cùng tôi mới chạm tay vào hai tác phẩm thuộc hàng kinh điển này. Tôi thấy thời điểm mình đọc đã trở nên khá muộn. Hẳn bạn đọc nên tiếp cận với hai cuốn sách này từ sớm, đặc biệt với Giết con chim nhại – trẻ em có thể tìm thấy trong đó những bài học giáo dục ý nghĩa, trong khi Bắt trẻ đồng xanh dường như phù hợp với tuổi vị thành niên nổi loạn (nhưng cho những ai muốn tìm lại chút hương vị dù gần gũi hay xa lạ với mình trong những năm tháng hoa niên có lẽ cũng không phải sự chọn lựa tồi, đặc biệt nếu bạn đang chán mớ đời nhiều giả dối). Tôi mua hai cuốn sách trong cùng thời điểm. Nhưng quá trình đọc thì khác nhau.

Tôi đọc Giết con chim nhại khá nhanh, trong khi với Bắt trẻ đồng xanh thì ngược lại. Nếu Giết con chim nhại giống như một bé gái trong sáng, quả cảm, giàu tính chính nghĩa làm cho người ta yêu mến từ phút đầu đến phút cuối thì Bắt trẻ đồng xanh mang đến ấn tượng ban đầu của một cậu con trai bốc đồng hư hỏng. Bạn khó mà yêu mến chàng trai ấy ngay được. Sự yêu mến chỉ đến nếu bạn dành cho chàng sự nhẫn nại (bởi bạn là độc giả kiên nhẫn, tò mò hay vì những lý do ấm ớ nhưng thiết thực như tiếc tiền mua sách hay vì muốn đọc mà chưa có tiền mua sách mới). Phải mấy tháng trôi qua tôi mới trở lại với Bắt trẻ đồng xanh. Khi đọc trọn vẹn thì sự khó chịu ban đầu nguôi ngoai. Tôi nhận ra đằng sau sự ngổ ngáo hư hỏng của cậu trai kia là một tâm hồn lương thiện trong sáng. Và tôi bắt đầu thấy cậu ấy dễ thương…

Tôi vẫn mang theo cảm giác về sự liên quan giữa hai tác phẩm, cho đến bây giờ, sau khi đã đọc xong hết cả hai. Đó cũng là lý do khi muốn khái quát đôi dòng cảm nhận, tôi không chọn viết riêng từng tác phẩm. Dù vậy tôi lại không tránh khỏi cảm giác lúng túng khi xếp đặt chúng cạnh nhau, như thể tôi đang làm phép so sánh (tôi hoàn toàn không có ý định này). Nhưng có vẻ như đó lại chính là điều tôi đang làm. Phút chốc tôi cảm thấy mình trở nên vụng về và kém tinh tế làm sao…

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Số phận một cuốn sách



Bản thảo viết tay đề năm 1966. 22 năm sau được trả về cho khổ chủ. Trong 20 năm tiếp theo, vẫn không một nhà xuất bản nào chịu in. Mãi cho đến năm 2010… Tôi đang muốn nói đến Những ngã tư và những cột đèn. Tôi nhẩm tính, năm 2010, nghĩa là Trần Dần đã qua đời được 13 năm. Nghe bảo sách đến tay bạn đọc vào mùa xuân năm 2011. Được ngợi khen nhiều. Và cả giải thưởng. Kiểu như một cú đòn quá khứ gây choáng váng hiện tại… Bản tôi đọc là bản in lần thứ năm, được tái bản vào năm rồi. Tôi nghĩ đến quãng thời gian 44 năm. Một tác phẩm không được biết đến/không được thừa nhận. Và đời sống văn chương như chìm trong quên lãng của cái tên Trần Dần. Lại nghe bảo khi sách ra mắt, báo chí chính thống đó đây tỏ ý dè dặt. Cái gì từng khiến người ta e ngại tác phẩm này đến vậy? Chợt thoảng nghĩ đến đợt ra mắt rầm rộ dạo nào được báo chí thông tin của Sợi xích, tôi tự dưng chạnh lòng. Hình dung quá trình thai ngén và gìn giữ “đứa con tinh thần” của Trần Dần. Quãng thời gian 44 năm. Tôi như nhìn thấy sự muộn phiền của khói thuốc…

Bối cảnh của Những ngã tư và những cột đèn rất xa lạ với tôi. Hà Nội những năm 1954 – 1966, chiến tranh lấp lửng trong hòa bình. Và câu chuyện thuộc về những con người ở bên kia chiến tuyến – những lính ngụy binh cũ thời Pháp thuộc. Có thể nói từ trước đến nay, tôi không biết đến những tác phẩm khai thác tư tưởng của những con người từng là phe địch trong chiến tranh. Để rồi lờ mờ nhận thấy có những chất liệu cuộc sống dường như vẫn bỏ ngỏ trong văn chương Việt Nam. Như lần đọc ở đâu đó, người ta nhắc đến thời kì vượt biên của dân Sài Gòn sau giải phóng, một thời kì hàm chứa sự dữ dội và đau thương – thế nhưng lại nằm ngoài lề văn học. Hay tại vì tôi ít đọc văn học nước nhà? Dù vậy, nếu có điều gì dễ dàng đẩy một tác phẩm văn chương vào số phận nghiệt ngã, kiểu nằm trong ngăn kéo hơn bốn mươi năm, thì sự can thiệp thuộc những thẩm quyền chính trị phải là nhân tố hàng đầu. Tôi không nghĩ có nhà văn nào lại muốn viết một tác phẩm để tồn tại trong tương lai. Nghĩa là khi viết, nhà văn viết cho chính con người và thời đại họ thuộc về. Việc bị hiện tại cấm đoán, phủ nhận nằm ngoài mong muốn của người cầm bút. Trong khi sự tồn tại của tác phẩm ấy kéo dài bao lâu, và tương lai có trả lại sự công bằng lại là một câu chuyện khác… 

From The Day with Love

Từ ngày 7.7 đến nay, tôi bán được 24 cuốn sách. Một con số cụ thể nhưng vô cùng trừu tượng. Tất cả những người mua đều là người que...