Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

"Trong khi chờ đợi...


… hãy làm như mình đã chết”


Câu nói này nhặt được từ cuốn “Biên niên ký chim vặn dây cót” của ông nhà văn Nhật Bản, người mà rất có thể nêu tên tác phẩm thì ai cũng đã biết là ai đấy. Tôi bắt gặp bản điện tử của cuốn sách này trong khi rà soát lại những tài nguyên lưu trữ trên máy tính, nhằm xóa đi những thứ cần phải xóa. Biên niên ký chim vặn dây cót, Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Istanbul – Hồi ức và Thành phố, Bốn mùa trời và đất, và mới đây nhất, Người cô độc là những cuốn sách tôi muốn đọc, ít nhất từ mấy tháng nay (tôi đồ rằng danh sách này sẽ không thể nào bị cắt ngắn chừng nào sự eo hẹp về tiền bạc vẫn ngăn tôi hết sức cần kiệm với sở thích cá nhân).

Mặc dù sách số hóa là một lựa chọn đem lại tiện lợi nhất định, tôi không thích đọc sách dưới hình thức này. Việc phải sử dụng một thiết bị công nghệ để đọc một tiểu thuyết dài đã được số hóa với tôi là việc gì đó không mang tính “thư thái nghỉ ngơi”. Giống như là bạn vẫn phải căng mắt làm việc và dưới tác động của ánh sáng màn hình, đôi mắt của bạn rất nhanh rơi vào trạng thái mỏi mệt. Tôi không phản ứng lại trào lưu. Chỉ một cái máy tính bảng nhỏ gọn cũng có thể chứa hàng ngàn đầu sách là một hình dung lấp lánh. Bạn có thể đi thong thả trên đường với hàng ngàn cuốn sách theo cách đó. Nhưng bạn sẽ đọc được mấy cuốn sách trong một ngày, tranh thủ vào những phút bạn rảnh rỗi? Bạn có thực sự cần hàng ngàn cuốn sách kè kè bên bạn trong một ngày hay không?

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Trích dẫn lượm lặt

Cuộc đời như một chuyến xe mà chúng ta là người lái, mỗi khi qua một bến, sẽ có người lên và người xuống. Những người lên xe cùng ta lúc khởi hành phần nhiều giữa đường sẽ rời đi, còn người cùng ta đến cuối hành trình thì rất ít. Thậm chí chẳng có một ai.

Dù ở tuổi nào đi nữa, khi mà hình ảnh một người cứ đầy ắp trên mỗi bước đường đã qua thì đó chính là tình yêu.

Đôi khi tình yêu là một thứ tình cảm ích kỉ, không thể nào vẹn cả đôi đường thì nên chọn lấy tình yêu, bởi vì người sống bên mình suốt đời nên là người mình yêu thương. Nếu không thì sẽ uổng phí cả một kiếp người.

(Nghe nói anh yêu em - Thuấn Giang Khuynh Thành)

Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

(Cố hương - Lỗ Tấn)

Được gặp một người có duyên với mình trong thời điểm thích hợp, là hạnh phúc của cả cuộc đời. Được gặp một người có duyên với mình trong thời điểm không thích hợp, chỉ là một tiếng thở dài…
Trong kiếp phù sinh này, tất cả đều chỉ là hư ảo, đều không vĩnh cửu, đều không thể dựa dẫm, tất cả rồi cũng đều thay đổi, cho dù là tình yêu sâu đậm nhất rồi cũng sẽ không thể chống lại nổi sự bào mòn của thời gian.
Duy chỉ có hơi thở của người bên cạnh lúc này là chân thực, duy chỉ có cảm giác ôm nhau giữ hơi ấm trong đêm này là chân thực mà thôi.
Cảm giác này…phải chăng chính là thứ người ta vẫn gọi là “nương tựa”?

(Thất dạ tuyết - Thương Nguyệt)

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

“Tất cả những người tài hoa chân chính đều luôn tự sát”*

* Bài luận của cô nữ sinh 17 tuổi, Lâm Gia Phù trong cuốn tiểu thuyết tự truyện “Búp bê Bắc Kinh” của nhà văn Xuân Thụ (Trung Quốc). Tôi đọc cuốn sách này 5, 6 năm trước. Lâu nay chưa từng đọc lại. Dạo gần đây thi thoảng tôi mở lại những quyển sách cũ, Búp bê Bắc Kinh là một trong số đó. Có lẽ đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của trào lưu văn học linglei của thời điểm khởi đầu hay là cực thịnh của nó (kỳ thực tôi không quan tâm lắm đến trào lưu này, sau này có lẽ như mọi trào lưu khác, nó thoái trào hoặc là nó trở nên bình thường nên không thấy nhắc hay đã phát triển khác với cái chất ban đầu để vẫn được gọi bằng tên cũ, tôi cũng không rõ – chỉ thấy rằng giờ đây không ai đề cập đến cụm từ “văn học linglei” nữa). Cùng thời điểm đọc Búp bê Bắc Kinh, có lẽ tôi cũng đọc Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ và Kẹo – Tuổi xuân tàn khốc của Miên Miên – đều là những tác giả được xếp vào nhóm mỹ nữ linglei trên văn đàn Trung Quốc lúc bấy giờ. Trong ba tác phẩm này, có lẽ Búp bê Bắc Kinh là tiếng nói chất phác hơn cả.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Khúc Thụy du



Trong list nhạc của tôi có bài hát này từ lúc nào, tôi cũng không rõ. Vì không rõ nên tôi chắc mẩm tôi đã không yêu bài hát này từ đầu, theo cái kiểu vừa nhìn đã yêu, vừa yêu đã hiểu, vừa hiểu đã biết khó quên. Tôi hoàn toàn không nhớ có một bài hát như vậy trong list nhạc của mình. Mà cũng lâu tôi không nghe nhạc có lời. Tôi bắt đầu thích giai điệu hơn là lời ca. Chúng yên tĩnh, dịu dàng, thuần phục lòng người. Những bản nhạc không lời. Chúng trả tôi về với nội tâm tĩnh lặng, cho dù không phải là cảm giác hân thưởng cuộc đời với niềm vui rạng rỡ, vẫn thấy tự đáy lòng mình một niềm xúc động thiêng liêng. Như có cái gì tươi đẹp vẫn đang dành cho mình, đang vì mình mà ươm mầm đâu đó… Giống như mình, nhiều lúc bi ai như thế, u uất như thế, vẫn có thể trìu mến nhìn những cành hoa tươi tinh khôi trong một tiệm hoa nào đó giữa Sài Gòn. Giữa Sài Gòn bụi bặm, những cành hoa vẫn mang trong mình vẻ đẹp trinh nguyên…

Tôi lại đi xa điểm khởi đầu (nhiều khi tôi vẫn như vậy nhỉ, trong lúc muốn nói về hoa hồng lại sa đà với hoa trà, hoa lựu…hi hi).

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Đối diện cuộc đời – Krishnamurti

(Đây là một quyển sách đọc không dễ hiểu. Và tôi đọc nó trong những ngày mà có vẻ tôi cần đọc để tìm giấc ngủ hơn là đọc để hiểu hay đọc chỉ vì muốn đọc. Tất nhiên, khi gấp quyển sách lại, tôi không nghĩ tôi hoàn toàn không hiểu gì về tư tưởng của Krishnamurti. Theo thiển nghĩ của tôi, những thuyết giảng của Krishnamurti có phần thâm thúy hơn Osho – có thể vì khác biệt do cách diễn đạt (của họ trong ngôn ngữ gốc sử dụng hay do yếu tố dịch thuật thì tôi không rõ) làm cho những gì được nói ra không dễ lập tức hiểu được (về mặt nghĩa của ngôn từ) như khi đọc những thuyết giảng của Osho song về mặt tư tưởng, cả hai bậc thầy tâm linh ít nhiều vẫn gặp nhau ở sự tự do, tự nhiên, tính không chịu lệ thuộc bởi các quy định, các tư tưởng – trước hay sau của xã hội hay cá nhân nào khác trong việc hiểu ngộ chân lý, thấu suốt cuộc đời và con người. Tất nhiên, chưa đọc nhiều, tôi cũng không dám lạm bàn sâu, nhất là theo kiểu so sánh. Riêng với quyển sách này – tập hợp một số các đoạn nhật ký và bài nói chuyện của Krishnamurti, thật khó để trích lại một nội dung nào đó vì mỗi nội dung cần được đặt trong tổng thể cuộc nói chuyện mới hiểu rõ được ý nghĩa đằng sau những ngôn từ. Tuy nhiên, tôi vẫn trích ra vài điều dùng như "sợi chỉ" để ghi nhớ. Những đoạn nói về giáo dục trong quyển sách này cũng đặc biệt đáng để suy ngẫm).

Hợp tác với nhau vì sự sợ hãi hay vì mong được tuyên dương không phải là hợp tác. Sự hợp tác đến một cách tự nhiên và dễ dàng khi chúng ta yêu thương những gì mình đang làm; khi đó hợp tác là một điều vui sướng – tr. 72.

Khi hành động xuất phát từ sự thất vọng hay từ lòng ham muốn quyền lực thì dù hành động có xuất sắc đến mấy, hệ quả của nó cũng chỉ là sự rối loạn và sẽ tạo nên đau khổ. Hành động vì thương yêu thì không phiến diện, không mâu thuẫn hay chia cắt; nó có một hệ quả toàn phần, trọn vẹn – tr.73.

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Những câu chuyện cuộc đời (3)

(Phần này không phải một câu chuyện độc lập. Xem ra tôi không giữ nổi ý tưởng ban đầu của mình. Suy cho cùng thì việc viết các câu chuyện độc lập riêng biệt không thể làm thành một cốt truyện hoàn chỉnh nếu thiếu những tình tiết cần thiết về nhân vật xuyên suốt. Tạm đăng lên đây. Có lẽ chỉ khi viết được hoàn tất may ra mới chỉnh sửa toàn bộ cốt truyện một cách hợp lý được. Haiz... )

Không phải câu chuyện

- Dạo gần đây cậu không có vị khách mới nào à?

- …

- Này, cậu có nghe mình hỏi không?

- Có. Một bà già đau khổ vì con mèo của bà ấy qua đời.

Sau khi tôi chậm chạp lên tiếng, An ban tặng ngay cho tôi một cái nhìn lạnh lẽo. Dù đang ngồi quay lưng lại với An, tôi vẫn có thể cảm nhận được sự khó chịu đang đè trong lồng ngực của cô ấy. Và cả cái nhíu mày như của một bà cô già khó tính. Chắc chắn là nó đang hiện diện trên gương mặt của An. Tôi sẽ làm gì trước tình huống này? Tôi vẫn giữ nguyên tư thế. Nghĩa là tôi vẫn ngồi ườn trên ghế, ngước cặp mắt đờ đẫn của tôi nhìn lên trần nhà. Trần nhà sơn một màu trắng tinh. Tôi tha hồ vẽ mọi thứ lên khoảng không ấy. Nhưng thật kỳ lạ, rốt cuộc thì những gì tôi vẽ, qua năm tháng, vẫn chẳng có hình thù gì. Trần nhà vẫn là cái trần nhà. Cái trần nhà sơn màu trắng tinh.

An đến ngồi cạnh tôi và dùng cả hai tay, xoay ghế tôi lại để tôi phải đối mặt với cô ấy. Đầu tiên cô ấy nhìn tôi nghiêm nghị. Sau đó cô ấy mỉm cười. Cuối cùng cô ấy thở ra. Cùng với cái thở ra ấy, cô ấy đặt hai bàn tay lên vai tôi. Những cử chỉ này đều tuần tự như thế mỗi khi cô ấy muốn nói gì đó mà cô ấy cho là nghiêm trọng. Trong khi thật ra với tôi, mọi điều An nói đều là mọi điều tôi sẽ nghe và nên nghe. Nhưng rồi thì tôi cũng chỉ làm theo ý mình.

- Mình chỉ nói thế này: BeLoved là một tổ chức, nó cần kinh phí để duy trì và hoạt động. Nơi này hay cả bản thân mỗi chúng ta đều không thể tồn tại nếu chỉ dựa vào lý tưởng. Cậu có hiểu điều mình nói không?

Tôi xoay ghế lại và tiếp tục nhìn lên trần nhà.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Tình yêu hay ám ảnh dục tính?


Câu chuyện có lẽ bắt đầu vào mùa hè năm 1923. Vào mùa hè năm 1923, Humbert và Annabel gặp nhau, gần như lập tức “mê nhau điên cuồng, vụng về, đau đớn, không còn biết xấu hổ” và “một cách vô vọng”. Vô vọng vì Humbert mới 13 tuổi và Annabel trong cùng độ tuổi, chỉ kém cậu vài tháng và do vậy, khát vọng chiếm hữu nhau của đôi tình nhân nhỏ không thể không bị các yếu tố khách quan ngăn cản. Càng vô vọng khi bốn tháng sau, Annabel chết vì bệnh sốt chấy rận. Cái chết của cô bé đặt dấu chấm hết cho cuộc đời cô, cho tình cảm si mê đầu đời vừa mới bột phát giữa cô và cậu bé trai 13 tuổi. Nhưng lại khởi đầu định mệnh nghiệt ngã cho cuộc đời cậu bé trai ấy. Đó là nói theo cách nghĩ của Humbert. Trong một chuỗi những biện minh, Humbert tin là vậy. Rằng những ám ảnh si mê của chàng thanh niên Humbert, của người đàn ông trung niên Humbert dành cho các “tiểu nữ thần” xuất phát bởi những rung động đầu đời chưa được thỏa mãn với cô bé Annabel ấy. Rằng, Humbert chưa bao giờ lớn lên. Ông ta ở mãi độ tuổi 13 để mải miết đi tìm lại tình yêu đã mất. Dĩ nhiên, phải với các bé gái trong cái ngưỡng tuổi còn mang dáng dấp trẻ con ấy. Một Annabel khác. Và vào năm 1947, Humbert tìm thấy Lolita, một “tiểu nữ thần” 12 tuổi, cao chưa đầy một mét rưỡi.

---

Phải thừa nhận, với một cuốn sách đã gây nhiều tranh cãi về phương diện đạo đức, tôi có chút chần chừ khi chọn đọc. Không phải tôi lo ngại một chi tiết tội lỗi nào đó trong những cuốn sách khai thác những đề tài mang tính chất cấm kị đối với trật tự đạo đức xã hội thông thường có thể ám ảnh tâm trí mình và gây những hoang mang không đâu. Hay cuối cùng vì được viết bằng một ngôn ngữ tài tình, tôi lại đâm ra đồng cảm với mọi tội lỗi mà đã được văn chương may mắn khoác lên mình một vẻ đẹp nên thơ đến mức điều đáng phê phán lại trở thành thứ được ngợi ca và tôi không còn nhận ra, đâu là giá trị đích thực cần phải hướng tới. Đó là đặt giả định với trường hợp của những tác phẩm mà có vẻ lịch sử chưa có dịp kiểm nghiệm chất lượng của nó. Với LOLITA*, nó đã quá nổi tiếng. Và rác rưởi hẳn không có sức sống lâu bền đến vậy.

From The Day with Love

Từ ngày 7.7 đến nay, tôi bán được 24 cuốn sách. Một con số cụ thể nhưng vô cùng trừu tượng. Tất cả những người mua đều là người que...