Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Ghi chú về Anh em nhà Caramazov

1. Cuốn sách dài gần một ngàn trang nhưng hầu như không cảm thấy vất vả khi đọc. Lý do: như trong bài viết giới thiệu của dịch giả Phạm Mạnh Hùng đã nói, Anh em nhà Caramazov là tác phẩm cuối cùng và vĩ đại nhất của Dostoyevsky song cũng là “cuốn tiểu thuyết dễ hiểu nhất, nhiều tính cụ thể nhất, bố cục sáng rõ nhất” trong số các tác phẩm của ông. Tuy nhiên cuốn sách cầm trên tay quá nặng. Tôi không hiểu tại sao với những cuốn dày thế này, người ta không dùng loại giấy mà NXB Trẻ ưa dùng để in. Từ lúc chưa đọc xong, bìa sách và gáy sách đã te tua trông thấy với những vết gãy không có khả năng vãn hồi ( T _ T ). 

2. Pamuk trong một bài viết về Anh em nhà Caramazov đã kể về hai lần đọc cuốn tiểu thuyết này của mình. 

- Lần đầu lúc mười tám tuổi: ông dẫn lời của Borges nào đó (có lẽ là Jorge Luis Borges, nhà văn nổi tiếng người Argentina theo những dòng giới thiệu về tiểu sử trên Wiki mà tôi tìm thấy khi tra Google): “Khám phá ra Dostoyevsky cũng giống như lần đầu khám phá ra tình yêu, hay biển cả - nó đánh dấu một khoảnh khắc quan trọng trong hành trình cuộc sống” và khẳng định: “Lần đầu đọc Dostoyevsky của tôi luôn luôn dường như đánh dấu khoảnh khắc tôi đánh mất sự ngây thơ”.

- Lần thứ hai: tuy không nói rõ bao nhiêu tuổi nhưng hẳn đã hoàn toàn trưởng thành, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ vẫn dành cho Anh em nhà Caramozov sự ngưỡng mộ nhưng có thể thấy trong cách đánh giá lần này, thay cho tinh thần hồn nhiên, lòng sẵn sàng yêu ghét những thứ mình đọc ở tư cách độc giả, Pamuk đã tiếp nhận tác phẩm bằng sự điềm tĩnh, cái nhìn thấu suốt của một người từng trải, với nhận thức chín chắn và cũng dĩ nhiên, còn trong vai trò một nhà văn. 

Qua hai lần đọc, đại thể Orhan Pamuk cho rằng có thể đọc Anh em nhà Caramozov khi nhận thức đã trưởng thành nhưng tốt nhất nên được đọc khi còn trẻ bởi những phản ánh của nó là “một trải nghiệm gây sốc đối với độc giả trẻ”. 

Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ còn chia sẻ nhiều suy nghĩ liên quan đến sự đọc cuốn tiểu thuyết của mình như: “người ta không thể không kinh ngạc về khả năng của Dostoyevsky trong việc sáng tạo nhiều nhân vật như thế mà lại khác biệt nhau đến thế và phả hơi sống vào họ trong tâm trí người đọc với chi tiết, màu sắc và chiều sâu thuyết phục đến thế” và “các nhà văn khác… tạo ra những nhân vật đáng nhớ, nhưng hầu như ta nhớ họ vì những đặc điểm lạ lẫm hay ngọt ngào” nhưng “trong thế giới của Dostoyevsky, những tâm hồn bị hành hạ của các nhân vật ám ảnh ta”, rằng những tranh luận của các nhân vật “mau chóng trở thành tranh luận về cuộc đời”… 

Tất cả những dòng viết của Orhan Pamuk là những chỉ dẫn hết sức tuyệt vời có khả năng lôi kéo người đọc đến với cuốn sách ông đang viết về. Dù vậy, khi đọc Anh em nhà Caramozov, tôi đã không còn nhớ được những gì Pamuk từng viết. Nhưng điều hay ho là khi đọc xong cuốn tiểu thuyết của Dostoyevsky, tôi lại muốn xem lại Orhan Pamuk đã viết gì về nó. Và khi đọc lần này, tôi thấy là mình hiểu sâu hơn.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015

Anh em nhà Caramazov - F. Doxtoevxki



Nhiều khi người đời, dù là độc ác, cũng vẫn ngây thơ và chất phác hơn ta tưởng. Vả chăng, chính chúng ta cũng thế - tr. 10.

Kẻ tự dối mình và nghe lời dối trá ấy thường đi đến chỗ không phân biệt được sự thật ở bản thân mình và xung quanh nữa, thế là họ, không còn tôn trọng cả bản thân mình và người khác. Một khi không tôn trọng ai thì cũng không còn yêu ai nữa… - tr. 53.

Có người biết không ai xúc phạm mình, rằng xúc phạm là do y bịa đặt ra và vẽ vời thêm, tự y phóng đại lên cho thành chuyện, y bám lấy một lời nói và biến hạt đậu thành quả núi – chính y biết thế, nhưng y vẫn cứ là người trước nhất oán giận, oán giận đến độ thích thú, đến mức cảm thấy hết sức khoái trá và vì vậy đi đến chỗ oán thù thực sự… - tr. 53.

Trong dân chúng có nỗi đau xót thầm lặng và hết sức nhẫn nại, nó ẩn sâu vào bên trong và im tiếng. Nhưng cũng có nỗi đau xót vỡ tung ra, nó bột phát ra ngoài thành nước mắt và từ phút ấy, nó biến thành lời than vãn. Nhất là ở phụ nữ. Nhưng nó không nhẹ nhõm hơn nỗi đau xót thầm lặng. Lời than vãn chỉ làm nguôi lòng vì nó khiến con tim mưng mủ và tan nát. Nỗi đau xót như thế không muốn được an ủi, nó được nuôi dưỡng bằng cảm giác không thể nguôi dịu được của mình. Sự than vãn chỉ là nhu cầu không ngừng khơi sâu vết thương – tr. 58.

… tình yêu thể hiện bằng hành động so với tình yêu mơ mộng là một cái gì khắc nghiệt và đáng sợ. Tình yêu mơ mộng khao khát công quả mau chóng, khao khát được thỏa mãn ngay, và nó muốn mọi người để ý đến thành quả của nó. Ở đấy thực sự người ta sẵn lòng hy sinh cả tính mệnh, miễn là cái đó không kéo dài, mà diễn ra mau như trên sân khấu, sao cho mọi người đều nhìn thấy và khen ngợi. Tình yêu thể hiện bằng hành động, đấy là công việc và sự tự chủ, mà đối với một số người thì có lẽ đó là cả một khoa học – tr. 72.

Bây giờ tôi nhìn thấy anh ấy đáng thương, đấy là một dấu hiệu chẳng lành về tình yêu. Nếu như tôi yêu anh ấy, vẫn còn yêu thì bây giờ có lẽ tôi không thương hại anh ấy, mà phải căm thù kia… - tr. 237.

Một người bị xúc phạm bao giờ cũng hết sức đau lòng khi tất cả mọi người đều tự xem mình là ân nhân của người đó… - tr. 270.

Những người quá cố thân thiết yên nghỉ ở đấy, mỗi phiến đá trên mộ họ đều nói lên cuộc đời sôi nổi đã qua… - tr. 290.

Muốn yêu được một con người thì phải giấu mặt đi, hễ phô mặt ra thì tình yêu biến mất.

… với nhiều người ít kinh nghiệm về tình yêu, nhiều khi bộ mặt con người là trở ngại ngăn cản người ta yêu nhau.

(tr.298 – 299)

… giả sử tôi đau khổ sâu sắc, những người khác không bao giờ có thể biết được tôi đau khổ dường nào, vì đấy là người khác, chứ không phải là tôi, vả lại ít có người chịu thừa nhận người khác là con người đau khổ (dường như đấy là một phẩm tước)… - tr. 299.

Về lý thuyết thì vẫn có thể yêu đồng loại, dù là yêu từ xa, nhưng ở gần thì hầu như không bao giờ… Trẻ em thì ở gần vẫn có thể yêu chúng được, cho dù chúng bẩn thỉu, cho dù mặt mũi chúng xấu xí (nhưng tôi cho rằng trẻ em không bao giờ xấu xí)…- tr. 299.

Thực ra, đôi khi người ta nói về sự tàn bạo "thú vật" của con người, nhưng như vậy là oan ức cho thú vật : thú vật không bao giờ tàn bạo được như con người, con người tàn bạo một cách tài tình có nghệ thuật – tr. 300 – 301.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Đôi lời về Đời tôi

Hơi quá lâu kể từ lúc tôi đọc xong cuốn này (tôi đã kịp đọc vài cuốn khác và ghi lại những câu hay ho mình cảm thấy – một đoạn thời gian chả ngắn tí nào đã trôi qua, thế đấy !). Sở dĩ tôi để cuốn này chịu số phận bị gấp lại ở nhiều trang vì ngay sau khi đọc xong, ấn tượng bởi cách nhìn tinh tế của tác giả đối với những chân dung văn học (ở đây là những nhà văn Đức), tôi đã muốn có thể lọc lại những chi tiết đắt giá liên quan đến những nhà văn này (bằng cách tìm hiểu sâu hơn về tiểu sử của họ, giá trị tác phẩm của họ và sau đó liệt kê tất cả, dĩ nhiên trọng điểm là phải làm sao đan cài cái nhìn hóm hỉnh, chân thực của Marcel Reich – Ranicki vào). Nhưng để làm cái việc này thì rõ là phải mất nhiều thời gian, và tôi cũng e việc trích dẫn cuốn sách trong trường hợp này, hẳn có thể là một sự xâm phạm thô bạo quyền tác giả. Thế là từ từ tôi lờ tịt cái hào hứng mình từng có. Và nói chung thì lâu dần, cái hào hứng ấy cũng tự động xẹp dần thôi. Dù sao, tôi vẫn muốn nói đôi điều về cuốn tự truyện này, một trong những cuốn sách đọc trong năm rồi mà tôi rất thích.

Cần mở ngoặc đôi điều là tôi không hề ưa cái việc thống kê những cuốn sách mình từng đọc, bao gồm các kiểu : đếm xem đã mua bao nhiêu cuốn, thích cuốn nào nhất, cuốn nào có ảnh hưởng nhất, cuốn nào gây thất vọng nhất..vv..vv (dù tôi có vẻ hay thủ thỉ thù thì về từng cuốn chăng nữa). Nên khi nói Đời tôi là một trong những cuốn tôi rất thích trong cái sự đọc năm rồi, tôi không chắc mình có thực sự đặt nó trong một tổng thể những cuốn mình đã đọc trong năm 2014 không. Có lẽ nên nói đơn giản là tôi thích thì đúng hơn. Nhưng nói thế thì phải đặt trong tổng thể tất cả những cuốn sách đã đọc à. Chỉ cái suy nghĩ ấy đã thấy kinh khủng rồi.

Đời tôi là một cuốn sách khá đặc biệt, mặc dù tự truyện là một thể loại mà thường tôi chọn đọc với ít nhiều khắt khe hơn so với tác phẩm hư cấu thông thường, nhưng cuốn này thì tôi mua mà cũng không lăn tăn nhiều lắm. Tự truyện của một nhà phê bình văn học thì lạ nên cũng đáng để đọc. Huống nữa thì đó là một cuộc đời đã trải qua những biến cố bi thảm trong lịch sử và có một cuộc sống đủ dài, đủ tầm quan trọng để kể lại đời mình. Giới thiệu sơ nét (trên bìa sách) thì thế này: "Marcel Reich – Ranicki (1920–2013) là nhà phê bình văn học Đức uy tín nhất nửa sau thế kỷ 20, nhận xét của ông có những ảnh hưởng đáng kể đến sự nghiệp của một nhà văn Đức”.

Và có lẽ để tăng hiệu quả bán sách, người ta đã phải chú thích thêm dòng chữ ở ngay bìa trước: "Tự truyện của Giáo hoàng Văn học Đức" khiến cho một người mù tịt về tác giả và có khuynh hướng suy nghĩ thật thà non nớt dại khờ như tôi ban đầu hơi băn khoăn về tính tôn giáo trong tác phẩm. Sém tí nữa tôi đã bỏ qua hai chữ "Văn học" để lầm tưởng đây là tự truyện của một Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo nào đó ( __ __ !). Và cũng có lẽ để tránh cảm giác khô khan cho độc giả, người ta cũng he hé một chuyện tình đẹp, cảm động, bất tử bên trong câu chuyện về cuộc đời nhà phê bình văn học này. Dù theo tôi thấy sau đó thì, khía cạnh tình yêu riêng tư không phải điều trọng yếu trong cuốn sách, dù những dòng viết về tình yêu (mà khi trích dẫn lại) tôi phát hiện chúng có khi còn hay hơn trong những cuốn tiểu thuyết tình yêu lãng mạn. Sự thực là những khía cạnh cá nhân được đề cập khá kín đáo và mặc dù Ranicki cùng người bạn đời của mình gần như sống bên nhau cả đời, dĩ nhiên không có lý do để nghi ngờ tình yêu của họ, song tình yêu ấy, người bạn đời ấy không ngăn ông thi thoảng qua lại với những người phụ nữ khác, và hẳn ít nhiều ông cho đó là bình thường.

Đời tôi – Marcel Reich-Ranicki

Lần đầu tiên tôi hiểu, hoặc chỉ phỏng đoán, rằng tình yêu là một đam mê không biết đến giới hạn, rằng trạng thái quá độ của những kẻ hạnh phúc hoặc bất hạnh vì tình sẽ dẫn đến điên cuồng, thách thức, hoặc muốn thách thức thế gian. Tôi cảm thấy tình yêu vừa là hạnh phúc vừa là trừng phạt, vừa là ân sủng vừa là tai họa. Tôi như bị sét đánh khi phát hiện tình yêu và cái chết gắn bó với nhau, rằng chúng ta yêu vì chúng ta phải chết – tr. 94 – 95.

… ta có thể phát hiện và nhận ra điều gì đấy trong văn học, chẳng hạn tìm ra được chính mình, cảm xúc, ý nghĩ, hy vọng và ức chế của riêng mình, nhưng không thể đánh giá nó quá cao – tr. 105.

"Tình yêu là tên gọi chúng ta đặt cho một thứ tình cảm tột bậc, thứ tình cảm đưa ta từ thiện cảm tới mến thương và từ mến thương đến lệ thuộc; nó đưa ta vào một trạng thái ngây ngất, đôi khi nó có khả năng khiến người trong cuộc thiếu sáng suốt. Nó là niềm hạnh phúc gây ra đau khổ và là sự đau khổ đem hạnh phúc đến cho con người" – tr. 108.

… tình yêu luôn liên quan mật thiết đến nhu cầu tự khẳng định bản thân và không tình yêu nào không có sự hàm ơn. Tình yêu không nhất thiết phải nảy sinh từ sự hàm ơn, nhưng nó dẫn tới sự hàm ơn hoặc nó tắt lịm – tr. 109.

… khủng khiếp hơn cái đói là nỗi sợ chết, khủng khiếp hơn nỗi sợ chết là sự nhục nhã triền miên – tr. 213.

Tuy ngày ấy chúng tôi chưa biết, song hẳn đã dự cảm rằng ai tình cờ thoát chết trong khi người thân của mình bị giết, người ấy khó có thể sống an bình với chính mình – tr. 227.

Phần lớn nhà văn không hiểu về văn học hơn chim muông hiểu về các nhà điểu học. Và họ ít có khả năng nhất để đánh giá về tác phẩm của chính họ. Vì thông thường tuy họ biết đại thể điều họ muốn thể hiện, làm sáng tỏ, đạt được và tác động, nhưng chính điều này đã che mờ đôi mắt họ trước những gì họ đã thật sự làm và đạt được. Nhà phê bình cần – cặn kẽ và cẩn thận như có thể - đánh giá điều tác giả viết. Còn những gì tác giả nói về tác phẩm của họ, nhà phê bình không nên bỏ qua, nhưng cũng chớ nên quá coi trọng.

Nhưng hồi đó tôi cũng học thêm được điều này: không có phê bình vẫn có văn học, nhưng thiếu văn học thì không thể có phê bình. Nói cách khác: ăn nhậu trước, luân lý sau; thơ văn trước, lý thuyết sau; văn học trước, phê bình sau. Vì lý do đó, chúng ta cần tránh coi thường hoặc thậm chí quên những gì chúng ta hàm ơn họ - những nhà văn đã thật sự góp phần vào nền văn học của chúng ta. 

(tr.255)

… giữa một tác giả và một nhà phê bình chỉ có hòa bình hoặc thậm chí tình bạn, khi nhà phê bình không bao giờ viết về sách của tác giả ấy và tác giả dứt khoát mãi mãi chấp nhận – tr. 273.

Khi viết về người khác thì hoàn toàn không thể tránh khỏi đồng thời viết về chính mình – tr.322.

Nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ : không có tình yêu văn học thì không có phê bình – tr. 323.

... các nhà văn cảm nhận mọi chuyện mãnh liệt hơn và dữ dội hơn người khác, nên họ phải chịu giày vò hơn người khác. Nhu cầu thường xuyên tự khẳng định của họ liên quan đến điều này. Thế là rõ, nhưng điều đáng ngạc nhiên là sự thành công, thậm chí thành công tầm cỡ thế giới, cũng chẳng khiến cho nhu cầu này giảm bớt chút nào – tr. 331.

"Đối với nhà văn thì nói chung một bài phê bình ‘hay’ là bài ca ngợi ông ta và nói xấu đối thủ, bài phê bình ‘dở’ là bài chê bai ông ta và tán dương đối thủ" (Georg Lukás) - tr. 331.

Một số nhà văn đã quả cảm đi tìm ngay chiến lũy. Phải chăng họ đã sao nhãng văn học để hiến thân mạnh hơn từ trước nay cho chính trị? Hay họ sở dĩ ráo riết tìm chốn náu thân nơi chính trị, chẳng qua chỉ vì họ không còn tiến bộ trong sáng tác? – tr. 344.

"Những nghệ sĩ tài ba chỉ sống trong tác phẩm của họ thôi, do đó cá nhân họ chẳng có gì đáng quan tâm" (Oscar Wilde) - tr. 367.

(Lê Chu Cầu dịch, NXB Thế giới và Nhã Nam, 2014)

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

Tôi đợi ai cuối cuộc chơi này?

Buổi sáng ngày 24, trên đường đi qua một nhà tang lễ, tình cờ nghe được tiếng kèn đang thổi giai điệu bài Một cõi đi về của Trịnh, tôi dỏng tai nghe. Thì ra người ta có thể dùng bài này để tiễn người mất về nơi an nghỉ cuối cùng. Đây là một trong những bài hát buồn, đậm chất triết lý kiểu Trịnh, nghĩa là kiểu gì thì tôi cũng chẳng biết bởi có nghiên cứu gì về âm nhạc đâu. Nhưng cứ như người ta thường ví von “vô thường như Trịnh”, tôi nghĩ cũng không hẳn là người ta biết thế nghĩa là thế nào, người ta cứ ví von vậy thôi. Quan trọng là khi nói thế thì mọi người hiểu “kiểu Trịnh” có nghĩa “kiểu Trịnh” mà không phải “kiểu Trương” hay “kiểu Nguyễn”, vậy là đủ. Giữa đường sá láo nháo, tiếng kèn tạo nên những giai điệu không lời nghe thật mênh mang. Nó dễ khiến người ta phải nghĩ ngợi về cuộc đời, thế nào nhỉ, một nỗi đời có khởi đầu và kết thúc, ở giữa hai điểm ấy là những chuỗi ngày loanh quanh.

Trên đường, ở một ngã tư dừng chờ đèn đỏ, tôi lơ đễnh nhìn sang ngay bên phải mình. Đập vào mắt là chiếc giày nâu mới cứng. Mới đến độ mắt tôi cứ nhìn hoài, cứ như là chưa bao giờ thấy cái gì mới đến thế! Ngó lên chút thì lại thấy một ống quần jean cũng mới cứng. Nếu cái áo gió của anh này cũng mới cứng thì hẳn anh ta đã diện cả cây quần áo mới rồi mới phóng xe ra đường hôm nay. Nhưng cái áo gió không mới lắm, dù cũng chẳng cũ. Còn cái nón bảo hiểm, tôi không nhớ rõ lắm, chỉ mang máng nó có vẻ rất to, loại fullface, nom như ụp cái nồi cơm điện lên đầu ấy. Không hiểu sao đôi giày và cái ống quần jean quá mới lại thu hút sự chú ý của tôi đến thế. Đến giờ tôi cũng chẳng biết tại sao. Hồi xưa lâu lắm, thời học đại học, ghé nhà một cô bạn chơi. Tôi không còn nhớ đó là ngôi nhà nào của bạn ấy, vì sinh viên thì chuyển chỗ trọ nhiều nhưng hình như căn nhà nằm trong ngõ hẻm và khi về tôi phải qua nhiều ngõ hẻm khác. Khi gần ra đến đầu đường tôi tình cờ nhìn thấy một cậu sinh viên học cùng lớp, đang ngồi trên xe máy, vận một chiếc áo thun trắng, loại áo tay dài, form rộng. Có lẽ chúng tôi có chào nhau vài ba câu. Bây giờ tôi cũng không còn nhớ nữa, kể cả nét mặt cậu ấy khi đó. Nhưng tôi lại nhớ cái áo cậu ta mặc. Đúng hơn là nhớ cái giây phút nhìn thấy màu áo trắng khi ấy. Nếu so với ghi nhớ tên tuổi, dáng hình của một người, bao giờ tôi cũng nhớ những chi tiết lặt vặt, không rõ rệt, trong một giây phút bất đồ nào ấy thuộc về họ như thế tốt hơn. Tôi cũng không hiểu tại sao mình lại thế.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Phim hoạt hình (12)

Frozen (Disney, Mỹ)

Cũng khoảng thời gian này một năm về trước, bộ phim “làm mưa làm gió” tại Việt Nam cũng như quốc tế không phải phim nào khác mà chính là Frozen này đây. Dường như cũng lâu rồi tôi không xem một phim hoạt hình đậm chất cổ tích với màu sắc thần tiên như phim này, từ nền câu chuyện đến phong cách làm phim kết hợp nhạc kịch. Dễ hiểu là Frozen không những đại thắng về doanh thu mà còn ẵm luôn giải Oscar phim hoạt hình hay nhất năm ngoái (kể cũng đáng tiếc là phim không lặp lại được kỷ lục của Người đẹp và quái vật). Tôi nhớ có bạn mình xem xong cứ khen nức nở mãi. Cá nhân tôi thấy cũng bình thường thôi, dù có xem đi xem lại đâu cũng mấy lần (hơ hơ…).

Câu chuyện xảy ra tại một vương quốc gọi là Arendelle. Vua và hoàng hậu xứ này có hai người con gái, Elsa và Anna. Elsa mang trong mình sức mạnh tạo ra băng giá. Trong một lần chơi đùa, chẳng may cô bé làm bị thương em gái Anna. Vua và hoàng hậu phải nhờ các thạch yêu chữa lành cho Anna đồng thời xóa bỏ mọi ký ức của Anna về phép thuật của chị gái. Lo sợ không kiểm soát được sức mạnh của mình, từ đó Elsa nhốt mình trong phòng, mặc cho Anna bao lần đến tìm chị. Không bao lâu sau vua và hoàng hậu gặp tai nạn qua đời nhưng Elsa vẫn cự tuyệt tình cảm của em gái dẫn đến sự xa cách giữa hai chị em trong nhiều năm.

Đến năm 21 tuổi, Elsa đăng quang lên làm nữ hoàng. Cũng trong ngày đại lễ, Anna gặp hoàng tử Hans, được chàng cầu hôn và nàng lập tức đồng ý. Cho rằng em gái quá vội vàng, giữa Elsa và Anna xảy ra tranh cãi, không may sức mạnh của nàng bộc lộ và Elsa làm cả vương quốc chìm trong băng giá. Nàng bỏ đi, tự tạo một lâu đài tuyết sống ẩn mình trên núi. Anna giao vương quốc lại cho Hans và quyết tâm đi tìm chị. Trên đường đi, nàng gặp Kristoff, một thanh niên hơi thô lỗ nhưng nhân hậu, giàu lòng chính nghĩa cùng con tuần lộc Sven của anh ta (bạn tuần lộc này gợi người ta nhớ đến chú ngựa Maximus khó chịu nhưng cũng hài hước vô ngần trong Nàng công chúa tóc mây, một phim hoạt hình cũng lấy ý tưởng từ truyện cổ tích và có yếu tố nhạc kịch vào năm 2010 của Disney). Sau đó cả bọn còn nhập hội với người tuyết Olaf lắm lời nhưng ngây thơ, đáng yêu. 

Trải qua chặng đường vất vả nhưng khi tìm gặp được Elsa, Anna không những không khuyên được chị gái trở về mà còn bị thương. Vết thương lần này, theo lời thạch yêu, chỉ có nghĩa cử của một tình yêu đích thực mới cứu được nàng. Kristoff tức tốc đưa Anna trở về gặp Hans, không hay biết cái đang chờ Anna là một âm mưu thâm độc. Bản thân Elsa sau đó nhận được tin Anna đã chết vì mình, nàng vô cùng đau khổ… 

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Nắng tháng tám - William Faulkner



Dù sở hữu một cốt truyện hấp dẫn: ban đầu (một phần do cách mà đội ngũ làm sách giới thiệu), bạn dễ nghĩ Lena hay Hightower là nhân vật chính, nhưng sau bạn nhận thấy nhân vật chiếm phần lớn tác phẩm là Joe Chirstmas, với cuộc đời phiêu bạt, chứa trong nó rất nhiều cay đắng, dục vọng, bạo lực, tội ác và cuối cùng là sự giải thoát; bên cạnh đó, những số phận con người, đa phần sống câm nín dưới bầu không khí dồn nén, ngột ngạt của nạn phân biệt chủng tộc, với không ít ám ảnh dày vò -  tôi thấy khá khó nhọc khi đọc tác phẩm này. Tôi đọc vào  mỗi cuối tuần hoặc những buổi tối và điều lạ lùng là cứ chỉ mươi trang thì tôi bắt đầu rơi vào trạng thái gà gật, dù việc đọc những cuốn sách có dung lượng lớn không hẳn quá xa lạ với tôi. Tôi được tặng cuốn này vào khoảng giữa năm nay. Và mãi gần đây tôi mới đọc xong.

Có lẽ bởi lối hành văn không hấp dẫn (với tôi): mang phong vị miền Nam, tuy khá chân chất nhưng vì lẽ nào đó, trong ngôn từ vẫn có sự trúc trắc đôi khi rất khó hiểu. Hoặc hiện thực khắc nghiệt (khiến tôi không thể không nghĩ vùng Jeffferson trong truyện hẳn giống với hoang mạc, bị thiêu đốt dưới ánh nắng mặt trời, chẳng có gì mọc nổi, khắp nơi chỉ là cát nóng bỏng, khô nghiệt, y như tâm hồn của dân xứ này). Dường như ít tìm thấy tình yêu trong Nắng tháng tám, dù hẳn là có chứ, ít ra với Byron và Lena, dù có ít biểu lộ bằng ngôn từ chăng nữa. Hay do thủ pháp đảo thời gian, đặc biệt khi càng về cuối tác phẩm, khiến vài tình tiết trở nên càng khó nắm bắt. Tôi thấy mơ hồ về cái chết của những nhân vật. Và tôi cũng không nhìn thấy thứ ánh sáng như lời bạt nhắc đến. Khi gấp cuốn sách lại, tôi chỉ nghĩ kết thúc có một tia hy vọng nào đó. Nhưng cụ thể là gì thì tôi không biết. Đọc lời bạt, tôi cứ liên tưởng đến một thứ ánh sáng choáng ngợp, lung linh và như là sẽ gột rửa tâm hồn người – kiểu ánh sáng tái sinh, sẽ xuất hiện vào khoảnh khắc kết thúc cuốn sách. Nhưng tôi đã lật qua hết những trang cuối tác phẩm mà chỉ bị những rối rắm làm trĩu mày. Tôi chưa nhìn thấy ánh sáng của vầng hào quang.

Trong cuốn sách có in kèm hai bài viết của tác giả Nhật Chiêu, hẳn để độc giả có cái nhìn rõ về Faulkner và những sáng tác của ông . Tuy vậy, bài viết in ở phần đầu cuốn sách lại bất đồ tóm tắt toàn bộ nội dung của tác phẩm, trong khi Nắng tháng tám hàm chứa nhiều tình tiết mà độc giả nhẫn nại có thể từ từ khám phá theo từng trang sách. Cái tóm tắt ấy như kẻ phá bĩnh, cái bất ngờ trong diễn biến câu chuyện nếu có thì cũng đã mất đi rồi. Bài viết in ở phía cuối, điểm qua những nét chính trong sáng tác và đồng thời tóm tắt hai tác phẩm khác trong sự nghiệp của Faulkner, nhìn chung không liên quan gì đến Nắng tháng tám. Tôi nghĩ sẽ hợp lý hơn nếu người ta bỏ qua cái đoạn tóm tắt ở phần đầu kia đi và thay vì viết tản mác về những tác phẩm khác thì tập trung vào chính bản thân tác phẩm trong cuốn sách này, ngõ hầu giúp độc giả hiểu sâu hơn qua lăng kính người khác. Việc khái quát những tác phẩm còn lại trong sự nghiệp của tác giả, nếu muốn, có thể dành chúng cho chính tác phẩm ấy trong cuốn sách thuộc về nó. Dù thật thà cho rằng đây là tác phẩm khiến mình cảm thấy vất vả khi đọc thì chính mấy điểm này trong hai bài viết in kèm mới là điểm khiến tôi thấy đáng tiếc nhất.

…đám đàn bà có thể tốt bụng mà không thực sự có lòng trắc ẩn. Đám đàn ông bây giờ cũng vậy, có lẽ. Nhưng chỉ có những mụ đàn bà xấu tính mới có thể tỏ ra tốt bụng với một người đàn bà khác đang cần lòng trắc ẩn – tr. 27.

Con người. Tất cả mọi người. Nó sẽ khước từ cả trăm cơ hội để làm điều thiện chỉ cốt đổi lấy một cơ hội xía vào việc người khác mà không ai mở miệng yêu cầu. Nó sẽ bỏ qua và quên thấy các cơ may, các thời cơ để làm ra tiền tài, danh vọng và việc thiện, và đôi khi cả việc ác nữa. Nhưng nó sẽ không bao giờ bỏ qua một dịp nào để xía vào việc người khác – tr.42.

Con người biết quá ít về đồng loại của mình ! Dưới mắt chúng ta, đàn ông và đàn bà đều hành động dựa theo cùng những lý do thúc đẩy ngay chính chúng ta, nếu chúng ta điên khùng tới mức làm những gì mà họ đang làm – tr.71.

From The Day with Love

Từ ngày 7.7 đến nay, tôi bán được 24 cuốn sách. Một con số cụ thể nhưng vô cùng trừu tượng. Tất cả những người mua đều là người que...