Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Nắng tháng tám - William Faulkner



Dù sở hữu một cốt truyện hấp dẫn: ban đầu (một phần do cách mà đội ngũ làm sách giới thiệu), bạn dễ nghĩ Lena hay Hightower là nhân vật chính, nhưng sau bạn nhận thấy nhân vật chiếm phần lớn tác phẩm là Joe Chirstmas, với cuộc đời phiêu bạt, chứa trong nó rất nhiều cay đắng, dục vọng, bạo lực, tội ác và cuối cùng là sự giải thoát; bên cạnh đó, những số phận con người, đa phần sống câm nín dưới bầu không khí dồn nén, ngột ngạt của nạn phân biệt chủng tộc, với không ít ám ảnh dày vò -  tôi thấy khá khó nhọc khi đọc tác phẩm này. Tôi đọc vào  mỗi cuối tuần hoặc những buổi tối và điều lạ lùng là cứ chỉ mươi trang thì tôi bắt đầu rơi vào trạng thái gà gật, dù việc đọc những cuốn sách có dung lượng lớn không hẳn quá xa lạ với tôi. Tôi được tặng cuốn này vào khoảng giữa năm nay. Và mãi gần đây tôi mới đọc xong.

Có lẽ bởi lối hành văn không hấp dẫn (với tôi): mang phong vị miền Nam, tuy khá chân chất nhưng vì lẽ nào đó, trong ngôn từ vẫn có sự trúc trắc đôi khi rất khó hiểu. Hoặc hiện thực khắc nghiệt (khiến tôi không thể không nghĩ vùng Jeffferson trong truyện hẳn giống với hoang mạc, bị thiêu đốt dưới ánh nắng mặt trời, chẳng có gì mọc nổi, khắp nơi chỉ là cát nóng bỏng, khô nghiệt, y như tâm hồn của dân xứ này). Dường như ít tìm thấy tình yêu trong Nắng tháng tám, dù hẳn là có chứ, ít ra với Byron và Lena, dù có ít biểu lộ bằng ngôn từ chăng nữa. Hay do thủ pháp đảo thời gian, đặc biệt khi càng về cuối tác phẩm, khiến vài tình tiết trở nên càng khó nắm bắt. Tôi thấy mơ hồ về cái chết của những nhân vật. Và tôi cũng không nhìn thấy thứ ánh sáng như lời bạt nhắc đến. Khi gấp cuốn sách lại, tôi chỉ nghĩ kết thúc có một tia hy vọng nào đó. Nhưng cụ thể là gì thì tôi không biết. Đọc lời bạt, tôi cứ liên tưởng đến một thứ ánh sáng choáng ngợp, lung linh và như là sẽ gột rửa tâm hồn người – kiểu ánh sáng tái sinh, sẽ xuất hiện vào khoảnh khắc kết thúc cuốn sách. Nhưng tôi đã lật qua hết những trang cuối tác phẩm mà chỉ bị những rối rắm làm trĩu mày. Tôi chưa nhìn thấy ánh sáng của vầng hào quang.

Trong cuốn sách có in kèm hai bài viết của tác giả Nhật Chiêu, hẳn để độc giả có cái nhìn rõ về Faulkner và những sáng tác của ông . Tuy vậy, bài viết in ở phần đầu cuốn sách lại bất đồ tóm tắt toàn bộ nội dung của tác phẩm, trong khi Nắng tháng tám hàm chứa nhiều tình tiết mà độc giả nhẫn nại có thể từ từ khám phá theo từng trang sách. Cái tóm tắt ấy như kẻ phá bĩnh, cái bất ngờ trong diễn biến câu chuyện nếu có thì cũng đã mất đi rồi. Bài viết in ở phía cuối, điểm qua những nét chính trong sáng tác và đồng thời tóm tắt hai tác phẩm khác trong sự nghiệp của Faulkner, nhìn chung không liên quan gì đến Nắng tháng tám. Tôi nghĩ sẽ hợp lý hơn nếu người ta bỏ qua cái đoạn tóm tắt ở phần đầu kia đi và thay vì viết tản mác về những tác phẩm khác thì tập trung vào chính bản thân tác phẩm trong cuốn sách này, ngõ hầu giúp độc giả hiểu sâu hơn qua lăng kính người khác. Việc khái quát những tác phẩm còn lại trong sự nghiệp của tác giả, nếu muốn, có thể dành chúng cho chính tác phẩm ấy trong cuốn sách thuộc về nó. Dù thật thà cho rằng đây là tác phẩm khiến mình cảm thấy vất vả khi đọc thì chính mấy điểm này trong hai bài viết in kèm mới là điểm khiến tôi thấy đáng tiếc nhất.

…đám đàn bà có thể tốt bụng mà không thực sự có lòng trắc ẩn. Đám đàn ông bây giờ cũng vậy, có lẽ. Nhưng chỉ có những mụ đàn bà xấu tính mới có thể tỏ ra tốt bụng với một người đàn bà khác đang cần lòng trắc ẩn – tr. 27.

Con người. Tất cả mọi người. Nó sẽ khước từ cả trăm cơ hội để làm điều thiện chỉ cốt đổi lấy một cơ hội xía vào việc người khác mà không ai mở miệng yêu cầu. Nó sẽ bỏ qua và quên thấy các cơ may, các thời cơ để làm ra tiền tài, danh vọng và việc thiện, và đôi khi cả việc ác nữa. Nhưng nó sẽ không bao giờ bỏ qua một dịp nào để xía vào việc người khác – tr.42.

Con người biết quá ít về đồng loại của mình ! Dưới mắt chúng ta, đàn ông và đàn bà đều hành động dựa theo cùng những lý do thúc đẩy ngay chính chúng ta, nếu chúng ta điên khùng tới mức làm những gì mà họ đang làm – tr.71.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Cuối tuần dzui dzẻ


Rời khỏi rạp chiếu phim, tôi hơi phân vân giữa việc đi thẳng về nhà hoặc tạt ngang một hiệu sách nào đó. Tôi nghiêng về hướng thứ nhất. Chỉ mới hơn ba giờ chiều và ánh nắng vẫn gắt gao như đang giữa trưa. Sài Gòn đã đi qua mùa mưa, dù thi thoảng ở những mạn ngoại ô, trời vẫn có mưa khi đêm xuống. Bây giờ nắng thường vàng ươm trên mọi nẻo đường, hầu như trong cả ngày, trừ những đoạn còn nhiều cây xanh tỏa bóng mát.

Tôi nghĩ sẽ đi thẳng về nhà nhưng đến ngã tư Nguyễn Văn Cừ, tôi lại rẽ phải. Trong đầu nghĩ đến hai cuốn sách mỏng mới phát hành dạo gần đây. Chỉ hai cuốn sách mỏng thì không có gì là quá nhiều. Đi thẳng một đoạn và lại tiếp tục rẽ phải. Tôi biết mình muốn đi đâu dù lâu lắm rồi không còn thú lang thang ở những nhà sách. Tôi hỏi, phải đến hai lần, với hai nhân viên khác nhau, rằng tôi cần phải để giỏ xách của mình ở đâu. Tôi nhớ luôn có nhiều hàng hộc tủ ở đây, bạn tự tay mình cất giỏ xách và khóa lại. Mất một lúc thì tôi thấy ra là không gian bên hông nhà này, phía trong thường dùng làm nơi để xe, phía ngoài một bên treo những kệ hộc tủ, một bên thường để một cái bàn để linh tinh những vật dụng dùng để gói quà, cái chỗ ấy bây giờ bày đủ các loại sách. Giá bán giảm từ 40% đến 70%. Và nhân viên bảo bạn có thể mang giỏ xách vào bên trong.

Không gian này tuy không quá sâu so với mặt đường nhưng hẳn được thiết kế làm hầm giữ xe, thế nên nó hơi bít bùng. Mấy cái quạt công nghiệp đang hoạt động hết công suất thì bạn vẫn có cảm giác nóng hầm hập khi ở trong đấy. Dẫu sao mấy con số phần trăm giảm cũng khá hấp dẫn. Tuy vậy sách bày biện khá lộn xộn, bốn hàng dài với những tấm biển viết phần trăm giảm ngăn giữa những hàng sách theo từng mức. Tôi cũng đoán mình không thể tìm thấy hai cuốn sách định mua. Song đống sách văn học vẫn đủ níu giữ sự chăm chú của tôi. Hầu hết là những tác phẩm văn học kinh điển, đa số dày đến rất dày, xuất bản từ vài năm trước. Tất cả được giảm ở mức 50%. Tôi nhìn thấy một loạt tinh hoa văn học ở đây: Chiến tranh và hòa bình, Thép đã tôi thế đấy, Những người khốn khổ, Bá tước Monte Cristo, Bà Bovary, Những chàng lính ngự lâm, Trà hoa nữ, Tội ác và trừng phạt…

Tôi chú ý đến những tác phẩm của Dostoyevsky. Tôi nhớ hồi đọc Những màu khác, những dòng văn của Orhan Parmuk đã khuấy động trong tôi ý muốn đọc tác phẩm của nhà văn Nga ấy. Tội ác và trừng phạt, Lũ người quỷ ám và Anh em nhà Caramazov, cả ba cuốn đều ở đây, với độ dày đáng nể. Và tôi cũng lại nhìn thấy Tiếng chim hót trong bụi mận gai mà đã bao lần tôi lỗi hẹn. Trong khi phân vân về Lũ người quỷ ám và Anh em nhà Caramazov. Và tôi cũng chợt nhìn thấy Trở về Eden mà mới ngày hôm qua tôi còn hỏi bạn mình đã đọc qua chưa, dù những câu chuyện lẫn lộn yêu hận tình thù kiểu điện ảnh kịch tính thường không thuộc “gu”  đọc của tôi. Và còn kia là Tất cả những dòng sông đều chảy, còn kia nữa là Bông hồng vàng và Bình minh mưa, và kia nữa, khiêm nhường nhưng vẫn đầy mê hoặc là Đồi gió hú…

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Làm một cái cây, chắc là hết phiền toái

 

Vừa mới hôm trước, còn rốt ráo lo phần báo cáo tập sự và chuẩn bị cho kỳ thi cuối năm thì qua hôm sau, người ta bảo chúng tôi chưa đủ điều kiện thi lần này, rằng cái thời hạn 12 tháng phải kéo dài đủ đến 18 tháng. Tôi không biết mình buồn hay vui. Tôi chỉ cảm thấy, trước mắt tôi, cái lững lờ khó chịu của thời gian…

...
Lật vài trang ebook của tác phẩm “Bên cạnh thiên đường” (tác giả Quản Ngai) thấy có đoạn đối đáp này (hẳn giữa hai người bạn): 

- Sống thật vô nghĩa.
- Chết càng vô nghĩa hơn.
- Cũng phải.
- Kiếp sau làm cây đi, chắc là hết phiền toái ... 

Cảm giác hững hờ chán chường trong cuộc sống này có lẽ có thể gói gọn trong vài câu trao đổi ấy. Dĩ nhiên cuộc sống còn muôn vạn cảm xúc khác. Nhưng có khi người ta trống rỗng và uể oải như thế, sự vô nghĩa tràn ngập trong không khí, trong từng cử chỉ, lời nói, cái nhìn, điệu bộ, nét mặt… Người ta thu mình trong sự bất động, có lẽ đến nhìn bản mặt người yêu cũng thấy nhạt thếch.

Một lần tôi nằm mơ (mỗi lần tôi khởi đầu câu nói này đều có chút cảm giác ngại ngùng, cứ như là tôi chẳng có gì để kể ngoài cái việc nhảm nhất là ườn xác ngủ và rồi thì là lại nằm mơ). Có điều, nếu đúng như một nghiên cứu từng nói, rằng giấc mơ phản ánh mong muốn nội tâm của bạn, trong khi (hẳn là Osho) chỉ ra rằng giấc mơ thể hiện bạn đã tiêu hao quá nhiều năng lượng cho điều/người bạn mơ về, rằng có cái gì đó đang sai… thì một giấc mơ, dù mãi chỉ là mộng mị, hẳn cũng để lại trong bạn dư âm nào đó. Cũng thường là vô hại thôi.

Trong mơ, tôi thấy mình  đang hát, dù đứt từng câu một: “Xin được làm mây mà bay khắp nơi giang hồ… Xin được làm gió dập dìu đưa điệu ca dao… Xin sống lại tình yêu đơn sơ, rong chơi những ngày đầu chừa ba vá miếng dừa đường mòn xưa, dang nắng dầm mưa”.  Sự đứt đoạn ấy cũng dễ hiểu, tôi chỉ biết có mấy câu trong bài hát mà lâu lắm rồi tôi không nghe, không nhớ, chưa từng thuộc hết lời ấy. Còn thương rau đắng mọc sau hè. Tôi hơi tần ngần nghĩ đến những lần thi thoảng trong mình lại trỗi dậy cái ham muốn đi công viên và chơi các trò chơi. Khi bạn còn nhỏ, một giấc mơ phi thường được thực hiện có lẽ chỉ đơn giản là việc được bố mẹ dẫn đi chơi công viên. Trong sự ngưỡng vọng của mình, hẳn tôi đã nhìn công viên như ước mơ trở thành sự thật của các bạn nhỏ, cũng có thể nơi ấy là cỗ máy thời gian giữa đời thực, ở đó, người ta được, một lần rồi lại một lần, sống lại những cảm xúc trẻ thơ. Còn nhớ lúc trước đọc một bài báo viết về một tài tử điện ảnh Mỹ, người ta bảo bất kể yêu ai, nơi chốn hẹn hò anh ta luôn thích dắt bạn gái đến chính là Disneyland. Tôi không rành tâm lý đàn ông (tôi không rành tâm lý ai cả, trừ bản thân tôi và với bản thân mình thì cũng chỉ trong chừng mực nào đó mà thôi). Nhưng trong suy nghĩ của tôi khi ấy thì anh chàng như ảnh thật dễ thương.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Biết ra sao ngày sau


 Cuối cùng thì cái thông báo về một kỳ thi cũng xuất hiện.

Buổi sáng đó, tôi nằm mơ. Trong mơ dường như đã quay ngược lại cái thời còn đi học. Một kỳ thi học kỳ mà trong khi đang chờ thi những môn cuối, tôi phát hiện thì ra mình đã bỏ lỡ mất hai môn. Tôi nhìn lại lịch thi, trong một ngày thi cả sáng lẫn chiều, tôi đã bỏ qua hai môn vào buổi chiều. Tôi bắt đầu thấy hoang mang. Một chữ “RỚT” treo tòng tenh trước mắt tôi. Khi tôi tỉnh dậy và nghĩ về giấc mơ đó, có cái gì như nói với tôi, cái cần xuất hiện sẽ xuất hiện vào hôm nay (tức là hôm qua, khi tôi ngồi gõ những dòng này). Và… đúng vậy, chính xác thì vào giữa buổi chiều ngày hôm qua (giá mà tôi mơ cái gì như trúng số, sau đó nó xảy ra, thì dễ có thể khoác lác và thấy giấc mơ ấy kỳ diệu biết bao - Nói raaa thiiiệt là đau looòng…).

Nếu từng nhẩm tính thời gian, tôi biết cái thông báo đấy phải xuất hiện vào tháng 7 rồi. Bây giờ là tuần đầu tiên của tháng 11. Trong cái việc này, thật ra tôi không có ý đợi. Có lúc tôi hơi mong mỏi nhưng thường là không. Phần vì, với tôi, nó là một cái gì đó cuối cùng sẽ đến thôi, sau những lình xình, những căng thẳng, cuối cùng thì họ cũng phải cho tiến hành cái cần phải được tiến hành, bất kể giờ đây những cái ghế ai đang ngồi… Nhưng sau đó, sau cái kỳ thi này, mà trong quá trình diễn ra cũng đã thấy trước sẽ không ít mỏi mệt (biết đâu chừng như giấc mơ đã cảnh báo, chữ “RỚT” đang treo tòng teng), mọi sự sẽ ra sao… Chẳng có gì hứa hẹn ở phía sau, chẳng có gì chờ tôi ở phía trước, không có đến cả một vì sao tín hiệu…. Như đi hết ngã tư này thì lại đến ngã tư khác, qua mùa nắng thì tới mùa mưa, qua ngày dài thì lại đến đêm thâu, tôi đã thôi không còn vọng tưởng: cứ đi đi, rồi sẽ có đường, cứ cố gắng đi, rồi mọi thứ sẽ tốt đẹp. Phần vì, cụ thể hơn, cái việc theo đuổi nghề luật sư dường như là việc tôi muốn làm, mà dường như có nhất thiết trở thành luật sư hay không thì cũng thế thôi. Trong cái việc này, tôi cho là mình gần như chuồi theo dòng số phận. Mà có lẽ cũng từ lâu, tôi ngẫm cái việc vùng vẫy để cố thoát khỏi một tình cảnh nào đó cũng chẳng thể đưa mình tới đâu. Tôi lại thấy, việc tìm đến một cái giếng cạn bỏ không, ngồi dưới đáy giếng, trầm tư mặc tưởng như cái tay Toru cũng hay hay. Dưới đáy giếng, cô lập, tĩnh lặng, đời vẫn trôi...

--
Hồi lâu có một cô bé từ đâu gọi điện cho tôi và mượn tôi cuốn luận văn về đề tài tôi từng làm. Tôi hơi ngạc nhiên, sau gần hai năm; sau gần hai năm, tôi lại nghĩ về đoạn thời gian đó. Nhớ lại trước đây một người từng bảo, đề tài tôi làm có thể mở hướng cho những đề tài sau này (khi bỏ đi một phương thức liên lạc, tôi đã quên phắt cô bạn này. Nhưng cái dạo ấy thì cô ấy đang yêu, hẳn cũng điên dại. Thế giới của người đang - yêu - điên - dại chỉ còn mỗi người mình yêu).

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Khi những người mẹ chọn cái chết


Khoảng những năm 2000 – 2004, khi còn ở tại một căn hộ lầu 3 trên đường Trần Hưng Đạo, có một sự việc tuy chỉ là nghe loáng thoáng từ những câu chuyện vãn giữa mẹ tôi và bác chủ nhà, song đến nay tôi vẫn còn nhớ.

Đâu đó trong một căn hộ ở những lầu dưới, có một người phụ nữ lập gia đình khi tuổi đã gần 40. Người chồng nhỏ hơn vợ vài tuổi. Người ta không thể nói về một trường hợp như vậy mà không ít nhiều thêm vào những suy nghĩ kinh điển trong xã hội: một người đàn ông cao lớn, khá đẹp trai như thế, lấy một người phụ nữ già và xấu thì cái việc cô ta có nhà (trong khi anh ta không có) hẳn là lý do chính của cuộc hôn nhân. Dù vậy bác chủ nhà không phải tuýp người khắc nghiệt. Bàn tán chuyện thiên hạ nhưng bác không quên bảo, tiếp xúc với người chồng, bác thấy anh ta là người hiền lành và chịu khó làm ăn. Tôi không nhớ mình từng chú ý đến những chi tiết có tính khởi đầu này về họ. Đối với tôi, họ chỉ là nhân vật trong một câu chuyện kể. Sự quan tâm (nếu có) còn ít hơn sự quan tâm đối với nhât vật hư cấu trong sách truyện.

Tôi không nhớ là sau đó bao lâu, tôi lại nghe được từ bác chủ nhà, chuyện người vợ mang thai. Cái chính là cô ấy mắc phải căn bệnh nào đó. Tôi nghĩ bác chủ nhà cũng không biết đó là căn bệnh gì. Chỉ biết người ta dự báo trước được cái chết của cô ấy. Và dường như việc mang thai và sinh nở làm cho căn bệnh ấy nặng thêm. Bác chủ nhà bảo có lúc cô ấy rất đau đớn nhưng vẫn quyết tâm sinh đứa bé. Bác chủ nhà bảo có lúc anh chồng nói với cô ấy, cô ấy đau chỗ nào thì anh ta sẽ hôn lên chỗ đó (có cái gì trong biểu hiện của bác chủ nhà và mẹ tôi khi ấy, dù sự thương cảm dành cho hoàn cảnh của cô ấy là chắc chắc, ở họ vẫn có cái gai người khi nhắc đến lời nói của anh chồng – kiểu như âm thanh “khiếp, khiếp” chúng ta phát ra mỗi khi có cái gì làm chúng ta rùng mình, nhưng bản thân từ “khiếp, khiếp” này mang nhiều sắc thái và không phải lúc nào chúng ta cũng đoán đúng  tâm trạng của người khác khi họ thốt ra cái từ ấy – bởi cùng lúc tôi lại thấy dường như họ đang tán dương người chồng). Tôi thoảng nghĩ về sự lãng mạn trong cách biểu hiện tình yêu của họ, song, ở những năm tuổi 15, 16, tôi đã biết hoài nghi – tôi không biết bằng cách nào, nhưng theo cách bác chủ nhà từng nói về họ, tôi thấy thật khó nghĩ người chồng có thể nói ra câu ấy, trong hoàn cảnh ấy (giờ đây khi nhớ về, tôi thấy mình thật phiến diện và tôi cũng thấy thật kỳ lạ, làm cách nào bác chủ nhà có thể biết được câu nói hết sức riêng tư như vậy giữa vợ chồng họ với nhau). Nhưng trong một câu chuyện thế này, điều bạn chú ý đến nhiều hơn là người mẹ và đứa trẻ - vì vậy mọi cảm nhận khác suy cho cùng đều mơ hồ và không quan trọng. Tôi nghĩ đó có thể là lần đầu tiên tôi biết đến một người mẹ chọn cái chết để con mình được sống. 

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Khởi sinh của cô độc – Paul Auster

Điều gì làm nên một nhà văn? Khi bạn viết một câu chuyện, một câu chuyện bạn có thể bắt gặp ở nhiều nơi, trong nhiều phận người, nhưng được diễn đạt theo một cách hoàn toàn của riêng bạn, mà cùng một câu chuyện ấy, người khác hầu hết chỉ có thể kể theo một cách, bằng cùng một giọng điệu, thế là bạn có một câu chuyện của riêng bạn, mang phong vị của riêng bạn, đó là văn chương, đó là nhà văn – ít nhất không tầm thường. Khi đọc Khởi sinh của cô độc – tôi thoáng có suy nghĩ ấy. Tôi nghĩ mình hiểu mà lại không hoàn toàn hiểu hết những gì Paul Auster viết. Sự kín đáo theo lối tiết chế của nhà văn khi viết về những khía cạnh thuộc đời tư của mình gợi mở sự hấp dẫn và trong chừng mực nào đó, hé lộ tài năng văn chương của ông.

Bạn cuối cùng đã nhìn thấy cái ở đằng sau bức màn nhưng dù vậy, bạn chỉ thấy được những gì được cho phép thấy, và dù vậy, bạn có thể minh định điều bạn thấy không thì không có gì chắc chắc. Đây cũng là khẳng định của Paul Auster trong hành trình cố gắng thấu cảm sự cô độc của con người. Trong cách ông viết về cha mình – tôi có suy nghĩ, điều làm nên sự đặc biệt, khía cạnh phức tạp, bí ẩn nơi con người mà cũng dễ có thể bị kết luận là tẻ nhạt, bình thường ấy chính là ở nơi cách ông nhìn, cách ông hiểu, cách ông tiếp cận và khai thác – những chất liệu tưởng chừng nhỏ bé, mờ nhạt thuộc về một con người, một cuộc đời dường như có ở đó mà dường như không hiện diện ở nơi nào. Nói khác đi, chân dung ấy đi vào lòng người – với chừng đó bí ẩn và chừng đó lý giải nhưng không bao giờ đủ – phần lớn nhờ tài năng người cầm bút, tất nhiên đằng sau đó, động lực của những trang viết là những trăn trở tình cảm mà nhà văn hướng về người cha đã khuất. Tôi cũng đồng thời thích phần Chân dung một người vô hình hơn phần Sách của ký ức. Tôi cùng lắm đọc cuốn này khoảng nửa năm trước thôi (nghĩa là phải ít hơn thời gian này), thế mà giờ nghĩ về, tôi thấy lạ lẫm quá chừng, đặc biệt là đối với phần thứ hai ấy. Sự trúc trắc trong ngôn từ dẫn đến những diễn đạt đôi khi gây khó hiểu là điều tôi không thích nhất ở tác phẩm (càng về sau mức độ càng nhiều, tôi có cảm giác như ăn phải cơm có sạn, nó làm tôi khó chịu, phải thừa nhận). Lòng nhiệt thành của tôi giảm đi, tôi thậm chí không sẵn sàng ngồi gõ lại những câu văn mình vốn đã đánh dấu lại để trích dẫn như thói quen mỗi khi đọc. Nhưng luôn có một thời điểm thích hợp nào đó. Như trong những ngày tháng mười, có những cơn giông vào cuối chiều, mưa rào trong đêm và sự cô độc ở đâu đó, xuyên qua không gian và thời gian, bạn nhìn thấy, sâu như lòng người…

Hôn nhân, trái lại, đã đóng sập cánh cửa. Sự tồn tại của bạn bó lại trong một không gian hẹp mà bạn phải không ngừng để lộ bản thân – và vì thế, không ngừng bị cưỡng chế phải nhìn vào bản thân, xem xét thế giới sâu hút của riêng mình. Khi cánh cửa mở ra thì chẳng bao giờ tồn tại vấn đề gì cả : bạn luôn có thể chạy trốn. Bạn có thể tránh những xung đột không mong muốn, dù là với chính mình hay kẻ khác, chỉ đơn giản bằng cách bỏ đi – tr. 25.

Dối trá là một cách mua sự phòng vệ - tr.26.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Đảo cô hồn (3)

Hai. Gian nan kiếm tiền

Đối với cô hồn chúng tôi thì tháng bảy là khoảng thời gian được mong chờ nhất trong năm. Có hai lý do: thứ nhất, vào tháng bảy chúng tôi được phép rời khỏi đảo để lên trần gian. Không cần phải nói hẳn bạn hiểu việc được thoát khỏi địa ngục âm u tù túng dù chỉ là trong khoảng thời gian ngắn ngủi có ý nghĩa thế nào đối với chúng tôi. Nó giống như đứa trẻ nghèo được diện áo mới vào mùa xuân. Niềm xúc động thiêng liêng đó chỉ những ai từng trải qua mới thấu hiểu được. Nhưng tầm quan trọng của tháng bảy với cô hồn không chỉ dừng lại ở đó, thậm chí có thể nói rằng hầu như chỉ có những ai mới chết xuống còn lưu luyến trần gian náo nhiệt mới thiết tha sự quay trở lại để lần tìm ký ức vốn sẽ rơi rụng dần đi. Còn đại đa số cô hồn mong ngóng đến tháng bảy vì đó là tháng kiếm ăn, tháng để chúng tôi tích lũy cho cuộc sống cả năm.

Tôi đã nói rằng cô hồn là những người không còn được ai tưởng nhớ trên cõi thế. Chính điều này đã góp phần không nhỏ quyết định số phận bạc bẽo của chúng tôi sau khi chết. Bởi vì chúng tôi hầu như đói khát quanh năm. Địa phủ không tự nhiên cung cấp thức ăn cho chúng tôi dù chúng tôi nghèo rớt mùng tơi. Muốn có thức ăn chúng tôi cũng phải có tiền. Và thật ra từ sau khi chết, tôi phát hiện một sự thật rằng trong vũ trụ này, không có bất cứ thứ gì được cho không biếu không, càng không có bất cứ thứ gì có giá trị lại được dán nhãn “miễn phí”. Thậm chí có lúc tôi đã nghĩ, đến tình yêu có lẽ cũng không nằm ngoài quy luật này. Nhưng trái tim âm u của tôi dường như vẫn còn đau đáu một điều gì đó. Phải chăng tôi trong kiếp làm người đã từng đau nỗi đau của tình yêu? Tôi không muốn tin rằng tôi đã từng yêu tha thiết để phải nhận ra rằng khi chết đi mình cũng vẫn chỉ là một hồn ma cô lẻ. Chẳng lẽ chúng tôi đã yêu nhau để rồi quên tất cả về nhau?

Vì cô hồn cũng cần tiền để trang trải cuộc sống sau cái chết nên giống như con người, chúng tôi cũng phải kiếm tiền. Vào tháng bảy khi cửa địa ngục mở và Quỷ địa ngục thông đường từ đảo cho chúng tôi lên trần gian thì công cuộc kiếm tiền của chúng tôi bắt đầu. Con người vào riêng tháng này trong năm, ngoài ma thân nhân của họ, còn hào phóng phúng điếu đủ thứ vàng, bạc, tiền xuống cho tất cả các cô hồn. Nhưng dù cứ mỗi năm qua đi, số lượng họ phúng điếu cho chúng tôi có khi ít có khi nhiều thì cũng không đủ cho tất cả các cô hồn. Bởi vì luôn có các cô hồn mạnh trong việc dành phần cho mình và có những cô hồn chỉ vớt vát được những thứ còn thừa lại. Rất nhiều cái gọi là tình bằng hữu tan vỡ sau tháng bảy. Tất nhiên cũng nhiều liên minh được củng cố vững chắc hơn sau tháng bảy. Nhưng đại đa số chúng tôi kiếm ăn độc lập và chỉ chấp nhận một quy tắc duy nhất là dành một ít phần dâng cho những cô hồn lâu năm – những vị đã dạy cho chúng tôi những bài học đầu tiên về thế giới ma quỷ. Tôi không giỏi cạnh tranh dành phần cho mình, cũng tự cảm thấy hành động ấy mất tư cách, ngay cả khi là tư cách của một cô hồn. Thông thường tôi tìm cách giúp đỡ người nào đó và như vậy cứ những gì họ phúng cho cõi âm thì mặc nhiên sẽ có phần dành cho tôi. Có điều theo cách đó tôi không kiếm được nhiều nhặn gì và phải dè sẻn tuyệt đối suốt năm. Lấy gì dư mà đến Đảo hoan lạc?

From The Day with Love

Từ ngày 7.7 đến nay, tôi bán được 24 cuốn sách. Một con số cụ thể nhưng vô cùng trừu tượng. Tất cả những người mua đều là người que...