Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Đảo cô hồn (2)

Địa ngục là một cõi rộng lớn, rộng hơn cõi người vô số lần và có lẽ cũng mênh mông bằng cõi trời. Nhưng địa ngục nằm sâu dưới lòng đất, ánh sáng mặt trời không thể chiếu xuống nên từ lâu, màu đen âm u là đặc trưng của địa ngục. Có điều không phải nơi nào ở địa ngục cũng là màu đen thê lương. Chẳng hạn Đảo cô hồn là một bộ phận của địa ngục nhưng không gian của nó chỉ thẫm đẫm màu xám của khói chứ không phải là màn đêm thâm sâu cùng cốc của những tầng địa phủ nơi diễn ra cảnh hành quyết những kẻ khi còn sống đã làm những điều ác độc không thể dung thứ. Hay như ở phía trên cùng, Đảo trường sinh - cũng là nơi Diêm Vương quyền uy đặt ngai vàng của mình ở đấy, màu sắc của không gian lại là màu đỏ của ánh lửa trường sinh. Từ hàng ngàn năm nay, lửa trường sinh soi đường cho các linh hồn chuyển kiếp cuộc đời vào cõi thế. Không có lửa trường sinh giữ ấm, các linh hồn có thể tiêu tan khi đi qua Cánh đồng gió trước khi đến được cửa sinh tử nơi đã mở sẵn  đón chào họ vào một kiếp sống mới. Tôi nghe nói Cánh đồng gió là nơi lạnh lẽo nhất trong vũ trụ này, ngoài việc quanh năm phủ băng tuyết, nơi này còn ngày ngày đón nhận những trận gió cuồng điên. Rất nhiều linh hồn đã hóa thành đám bụi tuyết chôn thân ở nơi này. Vậy nên chúng ta phải hiểu rằng việc có thể đầu thai làm người là điều may mắn và thiêng liêng, bởi vì ngay cả trường hợp bạn được xếp vào nhóm được chuyển kiếp thì để được bước vào cửa sinh tử bạn còn phải có quyết tâm.

Tôi chưa bao giờ đặt chân đến Đảo trường sinh và sẽ không bao giờ vì tôi là cô hồn không được tái kiếp làm người, nên tôi không biết tường tận sức mạnh của lửa trường sinh thế nào. Nhưng tôi nghe truyền tụng nó không chỉ là ánh lửa có quyền phép mà còn có cảm xúc như con người. Chính điều đó cho phép nó cảm nhận khát vọng làm người của linh hồn và tự quyết có bảo vệ cho họ hay không. Nếu không có lửa trường sinh, luân hồi không thể tiếp diễn. Bởi sự huyền diệu và quan trọng này mà vùng đất nơi được lửa chiếu sáng đã được đặt tên theo tên gọi của nó, cũng là nơi đa phần các linh hồn được chuyển kiếp đều dừng bước phiêu lưu vào cõi chết của mình ở đây. Họ sẽ không hề biết sâu dưới tận cùng là những tầng địa phủ đáng sợ. Nếu giả có đi xa hơn, thì nơi họ đến sẽ là Đảo hoan lạc, nằm ở giữa Đảo trường sinh và Đảo cô hồn.

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Số phận một cuốn sách



Bản thảo viết tay đề năm 1966. 22 năm sau được trả về cho khổ chủ. Trong 20 năm tiếp theo, vẫn không một nhà xuất bản nào chịu in. Mãi cho đến năm 2010… Tôi đang muốn nói đến Những ngã tư và những cột đèn. Tôi nhẩm tính, năm 2010, nghĩa là Trần Dần đã qua đời được 13 năm. Nghe bảo sách đến tay bạn đọc vào mùa xuân năm 2011. Được ngợi khen nhiều. Và cả giải thưởng. Kiểu như một cú đòn quá khứ gây choáng váng hiện tại… Bản tôi đọc là bản in lần thứ năm, được tái bản vào năm rồi. Tôi nghĩ đến quãng thời gian 44 năm. Một tác phẩm không được biết đến/không được thừa nhận. Và đời sống văn chương như chìm trong quên lãng của cái tên Trần Dần. Lại nghe bảo khi sách ra mắt, báo chí chính thống đó đây tỏ ý dè dặt. Cái gì từng khiến người ta e ngại tác phẩm này đến vậy? Chợt thoảng nghĩ đến đợt ra mắt rầm rộ dạo nào được báo chí thông tin của Sợi xích, tôi tự dưng chạnh lòng. Hình dung quá trình thai ngén và gìn giữ “đứa con tinh thần” của Trần Dần. Quãng thời gian 44 năm. Tôi như nhìn thấy sự muộn phiền của khói thuốc…

Bối cảnh của Những ngã tư và những cột đèn rất xa lạ với tôi. Hà Nội những năm 1954 – 1966, chiến tranh lấp lửng trong hòa bình. Và câu chuyện thuộc về những con người ở bên kia chiến tuyến – những lính ngụy binh cũ thời Pháp thuộc. Có thể nói từ trước đến nay, tôi không biết đến những tác phẩm khai thác tư tưởng của những con người từng là phe địch trong chiến tranh. Để rồi lờ mờ nhận thấy có những chất liệu cuộc sống dường như vẫn bỏ ngỏ trong văn chương Việt Nam. Như lần đọc ở đâu đó, người ta nhắc đến thời kì vượt biên của dân Sài Gòn sau giải phóng, một thời kì hàm chứa sự dữ dội và đau thương – thế nhưng lại nằm ngoài lề văn học. Hay tại vì tôi ít đọc văn học nước nhà? Dù vậy, nếu có điều gì dễ dàng đẩy một tác phẩm văn chương vào số phận nghiệt ngã, kiểu nằm trong ngăn kéo hơn bốn mươi năm, thì sự can thiệp thuộc những thẩm quyền chính trị phải là nhân tố hàng đầu. Tôi không nghĩ có nhà văn nào lại muốn viết một tác phẩm để tồn tại trong tương lai. Nghĩa là khi viết, nhà văn viết cho chính con người và thời đại họ thuộc về. Việc bị hiện tại cấm đoán, phủ nhận nằm ngoài mong muốn của người cầm bút. Trong khi sự tồn tại của tác phẩm ấy kéo dài bao lâu, và tương lai có trả lại sự công bằng lại là một câu chuyện khác… 

Những ngã tư và những cột đèn - Trần Dần

hiện tại được coi, như biên giới của hai KHÔNG. Cái KHÔNG thứ nhất là dĩ vãng, vốn đã có, bây giờ không có nữa. Cái KHÔNG thứ hai là tương lai, bây giờ chưa có, vì vậy bây giờ cũng không. Hiện tại chính là khoảng sột soạt  giữa hai bờ vực ấy, giữa hai cái KHÔNG ấy. Cho nên hiện tại cũng không là gì cả... Chính vì vậy mà người đời ghi nhật kí và cũng chính vì vậy, nhật kí bắt buộc phải bắt đầu, bằng những con số hiện hữu... Dường như làm như vậy, hiện tại sẽ được khẳng định rõ ràng, vào một chỗ í nghĩa, trên đường tuyến tính, của thời gian, từ trái sang phải, theo chiều mũi tên bay - tr.14 - 15.

Con người trên mặt trận bí mật này, không ngừng chuẩn bị rút súng - tr. 49.

những chuyện đời những cuốn sách, mà người ta sống mãi và đọc mãi, là cái bình thường, rất bình thường. Có khi người ta còn xem thường chúng, có khi còn chê bĩu môi. Để rồi bất chợt, đúng một lúc của nó, người ta mới à à, mới hiểu giá trị của chúng. Có khi đã quá muộn - tr.105.

Ở một góc độ nào đó, động tác ghi nhật kí cố gắng vĩnh cửu hóa hiện tại, và chấp nhận toàn bộ mâu thuẫn với qui luật thời gian - tr. 111.

Đời hiện đại là một khoa học giải sầu, tinh vi nhất... là một sự thuê tiền lẫn nhau, người nọ phải giải sầu cho người kia. Đời thế mà vui, chứ không phải sầu đâu. Người thì có kẻ sầu, vô số thằng sầu, con sầu. Nhưng đời khác. Đời là mọi người hợp nhau lại, để giải sầu và chống sầu - tr. 122.

Đời chỉ có một mẩu, dù trăm niên vẫn ngắn - tr.123.

Nói dối, chính là một lối trừng phạt, của lương tâm - tr. 146.

chiến tranh giấu kín trong nó, nhiều số phận, nhiều câu chuyện riêng tư, không ít bất thường - tr. 195.

Trách nhiệm pháp lí thì có hạn, ngược lại trách nhiệm tinh thần, thì vô hạn. Người ta khổ đau nhiều, người ta hoặc trở thành vĩ nhân, hoặc thành thằng điên rồ, cũng chính vì món trách nhiệm tinh thần này - tr. 284.

Ngã tư láo nháo bộ hành, láo nháo xe cộ và cột đèn. Tôi thấy khó thật, đi trong phố thì dễ, đi trong đời khó hơn triệu lần. Đi trong thành phố, dù là thành phố lạ, rẽ vào ngã tư rất dễ. Ngã tư trong thành phố nào, cũng sờ sờ là ngã tư. Có rẽ nhầm, cũng quay lại được. Ngã tư trong đời khác, đời không cho quay lại, không có cách gì quay lại. Đời nghiệt ngã. Đời lằng nhằng, ngã tư đời do đó, lờ mờ và loằng ngoằng. Đời di động, ngã tư đời do đó di chuyển trong cuộc đời, không lúc nào iên - tr. 299.

(NXB Hội Nhà Văn và Nhã Nam, 2013)

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Phim hoạt hình (11)

Madagascar 3 (Dreamworks, Mỹ)

Alex và đồng bọn đã trở lại và lợi hại hơn xưa. 

Tương tự như hai phần trước, chuyến phiêu lưu mới của bộ tứ hoàn cảnh đến từ sở thú New York vẫn thu hút người xem từ phút đầu đến phút cuối. Và cũng tương tự như hai phần trước, mỗi lần xem xong một tập phim, tôi đều cảm thấy, ôi sao phim ngắn thế… Nghe đồn phần này cũng là phần cuối cùng của Madagascar. Nếu vậy cũng thật đáng tiếc. Nhưng nếu vậy thì phim đã kết thúc thật huy hoàng bởi so với hai phần trước, phần 3 này còn vui nhộn và mãn nhãn hơn. Y như dòng viết mào đầu ở trên:

Alex và đồng bọn đã trở lại và lợi hại hơn xưa. 

Chuyện là sau một thời gian sống ở rừng rú Châu Phi, Alex lại đau đáu nhớ về New York hoa lệ. Cậu sư tử thích xê dịch như mọi lần lại dẫn dụ ba người bạn ngựa vằn Marty, hươu cao cổ Melman và nàng hà mã Gloria cùng trở về. Cả bọn bèn theo chân biệt đội cánh cụt vô cùng lợi hại đến một một sòng bạc lớn nhất thế giới. Ở đây, họ lại gây ra một cuộc đại náo loạn. Và lần nào không may cho cả bọn vì đã lọt vào tầm ngắm của nữ cảnh sát chuyên săn bắt thú với thành tích chưa từng thất bại. Để trốn tránh sự truy đuổi của người đàn bà thép này, số phận run rủi Alex và các bạn phải mua lại một đoàn xiếc di động và cùng đoàn xiếc này rong ruổi khắp Châu Âu. Từ đó mở ra một cuộc phiêu lưu mới vô cùng độc đáo… 

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Chút suy ngẫm trong ngày

Có lần tiếp chuyện một khách hàng trong một quán cà phê cũng có thể nói là ở trung tâm thành phố. Quán này có khá đông người nước ngoài lui tới. Vì ngồi gần cửa ra vào nên tôi có thể bắt gặp họ đi ngang qua. Có người da trắng và cả người da đen. Ít khi một lúc lại nhìn thấy nhiều người nước ngoài như thế. Còn cả hai cô gái người Nhật đi cùng một người Việt Nam dường như đang làm nhiệm vụ hướng dẫn viên. Ngoại trừ hai cô gái này (có lẽ vì họ nhỏ nhắn và cùng là người Châu Á, tôi thấy họ không quá xa lạ với dân mình), những người đàn ông da trắng và da đen trong quán cà phê ấy đều gợi lên cho tôi cảm giác đường bệ đến kinh ngạc. Nhất là nhóm ba người đàn ông đủ sắc tộc bước vào quán cùng một lúc (trong số họ có người nhìn như người Ấn). Họ rất to lớn, phục sức trịnh trọng (vest, cà vạt, cặp da), ánh mắt nhìn quanh tự phụ. Bạn nghĩ họ hẳn đến đây để thương thảo và đi đến ký kết một phi vụ quan trọng nào đó. Một cuộc họp với đối tác, những bộ vest chỉn chu, quán cà phê Sài Gòn, giữa trời trưa nắng, tất cả những thứ ấy bỗng dưng gợi lên cho tôi một cái gì đó thật gượng gạo. 

Có những lúc nhìn người nước ngoài ở Sài Gòn, tôi lại có cảm giác họ không phải đang ở trên một xứ sở xa lạ. Ngược lại, chính tôi – dân bản xứ mới là khách lạ nơi này. Rồi tôi nhủ lòng, nếu từng có người Việt treo biển miễn tiếp người Việt tại đất nước Việt Nam thì cảm giác ấy của tôi hẳn cũng dễ hiểu. Tôi cũng nhớ vài năm trước, có ông anh đang dạy ở một trường đại học than vãn với tôi một câu nghe chừng rất hài hước: ở trường anh giờ chỉ muốn tiến sĩ, đặc biệt là tiến sĩ ở nước ngoài về, không cần biết là cái nước gì, cứ miễn nước ngoài thì nhận hết…Cái sự sùng bái nước ngoài ăn sâu vào dân xứ mình như vậy, đến mức trở thành vô thức, trong đủ mọi lĩnh vực và vì vậy không phải không có lúc như mù quáng, làm tổn thương tinh thần chính dân tộc mình. Nhưng rốt cuộc là cái gì đã dẫn đến sự sùng bái ấy?

Tôi nhớ khi đọc tác phẩm Vô hồn của Sergey Minaev, có một đoạn viết khiến tôi chú ý. Nó cung cấp cho tôi một cách nhìn, về những người nước ngoài làm việc tại những công ty trong nước, ở đây là Nga. Với tôi, đó là một khía cạnh hiện thực đáng để suy ngẫm. Và đương nhiên là không chỉ cho dân Nga thuở ấy...

"Những expat (từ chỉ những người nước ngoài đang làm việc tại các công ty trong nước)… không kể đến một số chuyên gia cao cấp người nước ngoài đang làm việc tại những công ty tên tuổi… - những người được trả lương rất cao để nâng công ty lên tầm cỡ quốc tế. Thường thì chi phí đó thực sự đáng đồng tiền bát gạo. 

Với tôi, expat là một đám ngoại quốc thường đảm nhận những công việc như quản lý khách sạn, giám đốc nhà hàng, chuyên viên tư vấn đủ loại, chuyên gia quảng cáo, tiếp thị, giám đốc điều hành, giám đốc bán hàng v.v… Đa số đều là những tên láu cá hoặc là những kẻ không thành đạt ngay ở quê nhà và tới đây từ đầu hoặc giữa những năm chín mươi, lập nghiệp ở một đất nước gần như còn mông muội với ý định làm giàu bằng việc "đổi giày thủy tinh lấy vàng" cho những kẻ nhẹ dạ…

Dễ thấy rằng, người đang có công ăn việc làm tử tế không dễ gì bỏ ra nước ngoài làm ăn, nếu không phải là để mở rộng hoạt động kinh doanh lên tầm quốc tế hoặc là hoán đổi vị trí làm việc trong một công ty đa quốc gia. Tất cả những xê-ri phân bua kiểu như "Đơn giản là tôi thích đi du lịch" hay là "Phụ nữ nước bạn đẹp thế" chỉ là những câu sáo rỗng không hơn không kém. Và thế là trong một thời gian ngắn, những kẻ thất bại trong cuộc cạnh tranh ở nước mình bỗng dưng trở thành những người thầy dẫn dắt chúng ta làm thương mại. Họ được trả lương cao kinh hoàng… giúp họ chứng tỏ sự thành đạt của mình cho dân Nga ta, những người còn chưa kịp trở thành ông chủ của họ. Cứ thế hình thành một nếp nghĩ như thế này: dân ngoại quốc thì dứt khoát phải có giá hơn và luôn làm việc tốt hơn các đồng nghiệp bản địa…" *.

---

* Bản dịch của Nhật An và Trương Hồng Hạnh, NXB Trẻ và Tinh Văn, 2007.

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Đảo cô hồn

Trong câu chuyện

Một. Tôi phải gặp Diêm vương

Một nơi không bao giờ có ánh sáng nhưng cũng không bao giờ có đêm đen, một nơi không có tiếng cười nhưng cũng không khi nào có tiếng khóc than. Đó là Đảo cô hồn.

Tôi ở đây có lẽ đã đến mấy trăm năm. Ngày lại ngày trôi qua, tôi vất vưởng trôi trong không khí, thi thoảng dừng lại ngó lăm lăm những vong hồn khác. Tôi cố tìm một nét quen thuộc, một gợi nhớ thân thương đến cõi người nhưng nhìn đâu tôi cũng chỉ thấy những kẻ như mình, nhợt nhạt, tội nghiệp, âm u, tù đọng. Trăm năm ở đảo, trăm năm tìm kiếm, trăm năm cô đơn. Tâm trạng tôi dần trở nên u uất. Đã nhiều năm, tôi thường để mình trôi vô định từ góc đảo này đến góc đảo khác, mang theo sự nặng nề trong lòng mình hòa vào không gian trầm lắng của đảo. Tôi gặp gỡ nhiều cô hồn khác, kết bạn với họ. Nhưng thế giới cô hồn không có niềm vui, Đảo cô hồn là nơi chôn cất tiếng cười. Trăm năm ở đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy một nụ cười nào. Tất cả chúng tôi đều có gương mặt lặng câm như nhau.

Mấy trăm năm sống cuộc sống sau cái chết như thế, tôi cảm thấy kiệt sức. Tôi muốn tìm gặp Diêm Vương, người duy nhất có quyền lực ở địa ngục có thể giải thoát các  vong hồn khỏi số phận vĩnh viễn không thể siêu thoát của họ. Nhưng câu chuyện được truyền tụng nghìn năm trước vẫn còn ở trong tâm trí tôi, về kết cuộc của một cô hồn muốn thoát khỏi đảo. Diêm Vương không bao giờ ưa thích những hồn ma có ý định chống lại bàn tay của tạo hóa. Tại cửa ngõ duy nhất thông đảo đến chốn khác đến nay vẫn còn treo mái tóc anh ta. Đó là tất cả những gì còn lại sau một tiếng sét. Anh ta đã hóa thành tro bụi, mãi mãi không thể luân hồi chuyển kiếp. Tôi đã từng lang thang đến chốn ấy, nhìn cái thứ còn lại minh chứng cho sự tồn tại của kiếp người, lòng đau se sắt. Dạo ấy tôi vừa mới chết xuống đây, được răn dạy bằng câu chuyện của anh ta, hẳn tính người trong tôi hãy còn nên tôi còn nước mắt khóc cho anh ta. Mấy trăm năm trôi qua, nước mắt cũng tiêu tan, tôi nhìn vật thể sót lại của người thiên cổ, chỉ tự hỏi lòng mình có nên lặp lại số phận của anh ta. Tôi có mong muốn trở lại làm người không? Suy cho cùng, tôi nghĩ, thà trở thành cát bụi còn hơn tiếp tục là một cô hồn thế này, với chuỗi ngày lê thê tiếp nối sầu thảm lại đến sầu thảm.

Tôi phải tìm gặp Diêm Vương.

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Hồ - Banana Yoshimoto

Chỉ thiếu tập truyện ngắn Thằn lằn là tôi có đủ những tác phẩm được dịch và xuất bản tại Việt Nam của Banana Yoshimoto. Cái gì khiến tôi có duyên với tác giả này đến vậy nhỉ? Khi đọc nhiều tác giả Nhật hơn, cũng như nhiều tác giả Trung hơn, bạn dễ dàng nhận ra những điểm giống nhau của họ. Điều đó có khả năng dẫn bạn đến thẳng sự nhàm chán và rồi từ từ bạn ít muốn chọn lựa các đầu sách thuộc về nền văn chương của đất nước ấy hơn (điều này tôi lại ít cảm thấy khi đọc sách của các nhà văn phương Tây). Văn học Trung Quốc, dù các đầu sách xuất bản tại Việt Nam chiếm thế thượng phong, từ lâu tôi rất ít đọc. Với văn học Nhật, ngoài Banana Yoshimoto, Haruki Murakami hay Ekuni Kaori là những tác giả có nhiều sách xuất bản tại Việt Nam (tôi tin rằng mình đã bỏ lỡ Dazai Osami, Kawataba hay Watanabe vì vậy chưa thể liệt kê tên họ vào đây). Vì vậy với tôi,  không ngần ngại nói rằng, Haruki Murakami ám ảnh hơn cả, dẫu cho nhân vật của ông có giống nhau cỡ nào đi chăng nữa. Nhưng hỏi tôi,  ở tư cách người đọc nữ, thích đọc ai hơn, tôi sẽ trả lời là tôi thích đọc Banana Yoshimoto hơn (khi tự hỏi và tự trả lời, bỗng tôi cũng thấy sáng rõ được lý do tại sao tôi mua sách của tác giả này nhiều hơn cả). Đọc Banana với tôi khá dễ chịu nhưng không phải kiểu dễ chịu làm cho người ta quên (thường thì chúng ta chỉ nhớ những gì làm chúng ta trăn trở hay đau đớn đúng không?!). Cái không quên ở đây không có nghĩa là bạn sẽ nhớ được chi tiết những gì bạn đã đọc của tác giả này, tôi vẫn phải nói vậy bởi vì điểm chung trong sáng tác vẫn có lúc làm tôi nhớ nhầm giữa tác phẩm này với tác phẩm khác, nhưng cái không quên nằm ở sức hút, kiểu “bảo chứng tên tuổi” của một diễn viên thực lực – tôi vẫn sẵn sàng để đọc những tác phẩm tiếp theo của Banana Yoshimoto và sự thực đúng là như vậy.  

Hồ là tác phẩm mới nhất của cô. Một câu chuyện trong trẻo về tình yêu. Dù những khía cạnh về cuộc đời Nakajima, được hé mở dần dần về cuối trang sách, cho thấy một quá khứ không phải không khủng khiếp, cách viết của Banana Yoshimoto vẫn tinh tế và nhẹ nhàng như không. Điều này khiến bầu không khí trong truyện, dù cô đơn, thuộc về những con người sống như biết không có ai cần mình, và mình cũng không có ai bên cạnh, quá khứ hay tương lai là một màn sương mờ ảo không rõ hình thù, vẫn đạt đến độ trong lành, tinh khiết tuyệt đối. So với những tác phẩm đã viết, tôi nghĩ Hồ còn tinh khiết, đôi chỗ hài hước và lấp lánh ánh sáng lạc quan hơn. Tuy nhiên, một ấn tượng khá lạ về tình yêu đôi lứa giữa Chihiro và Nakajima (so với tình yêu đôi lứa trong những tác phẩm đã đọc của cô) là tôi không sao không cảm thấy mối quan hệ của họ cứ như giữa hai người bạn gái với nhau. Là bởi nhà văn xây dựng Nakajima ôn hòa, nhẹ nhàng quá hay tình cảm của họ trong lành quá, dù không hề thiếu sự chung đụng thể xác, mà chúng ta thì vốn quen ngó nghiêng những bụi bặm ở đời, đến nỗi ta không thể không bật cười (dĩ nhiên là trìu mến) trước sự trong lành ấy?! Có lần tôi nhớ đọc được rằng sở dĩ nhà văn chọn bút danh Banana vì đó là một cái tên rất trung tính. Và thú thật là đôi khi tôi cũng cảm thấy tình yêu mà Banana Yoshimoto viết cũng là thứ tình yêu rất trung tính.

---
 
Được yêu là thế. Là khi một người ‘muốn chạm vào mình, muốn tỏ ra dịu dàng với mình’ – tr. 18. 

Nghe một câu chuyện trắc trở của người khác cũng giống như cầm tiền của người ta vậy, không thể chỉ nghe xong để đấy. Bởi vì đã nghe nghĩa là ta đã nhận lấy trách nhiệm – tr.41. 

Thừa nhận mình không hiểu những chuyện mình thực sự không hiểu chính là tôn trọng người đó – tr.50.

Chỉ ở giai đoạn đầu của tình yêu người ta mới chịu đựng điều mình không thích vì người kia. Tới khi cả hai biết rõ điều người kia không thích thì tự nhiên họ sẽ không còn làm thế nữa – tr. 83.

From The Day with Love

Từ ngày 7.7 đến nay, tôi bán được 24 cuốn sách. Một con số cụ thể nhưng vô cùng trừu tượng. Tất cả những người mua đều là người que...